<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422</id><updated>2012-02-17T07:11:44.361+07:00</updated><category term='thơrượu'/><category term='chiêuquân'/><category term='bạn'/><category term='ảnh'/><category term='chândung'/><category term='nhớ em'/><category term='biển'/><category term='thơ'/><category term='lấy chồng'/><category term='chân dung'/><category term='bìnhthơ'/><category term='gửi bạn'/><title type='text'>Trịnh Quốc Dũng</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><link rel='next' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default?start-index=101&amp;max-results=100'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>198</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-7588596778091027438</id><published>2012-01-22T04:57:00.000+07:00</published><updated>2012-01-23T00:38:09.291+07:00</updated><title type='text'>Tết của ngày xưa</title><content type='html'>&lt;div style="color: #990000; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;Trước mặt tôi là một người phụ nữ mảnh mai. Đôi mắt hiền hậu nhưng toát lên vẻ dứt khoát và đầy nghị lực. Nụ cười rất tươi và dễ thu hút người đối thoại. Tôi kinh ngạc khi biết người phụ nữ này đã làm được nhiều việc lớn, lớn hơn rất nhiều so với sức vóc nhỏ bé của chị. Làm từ thiện cứu giúp cho bao nhiêu trẻ em nghèo bị ung thư và khuyết tật, tích cực tham gia các hoạt động quảng bá văn học Việt ra thế giới và giới thiệu văn học thế giới đối với độc giả trong nước, rồi còn làm thơ nữa. Hiện nay, chị đang phụ trách truyền thông cho một tổ chức phi chính phủ của Hà Lan. Đó chính là Nguyễn Phan Quế Mai, người phụ nữ mà tôi muốn giới thiệu trong bài này. &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;div style="color: #990000; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nguyễn Phan Quế Mai sinh tại Ninh Bình, nhưng phần lớn tuổi thơ của chị lại ở Bạc Liêu, mảnh đất cực nam của đất nước. Khi còn nhỏ, chị rất vất vả, phải làm lụng đủ mọi nghề để nuôi sống gia đình và bản thân. Nhưng chính sự vất vả trong những chuỗi ngày đó đã hun đúc một nghị lực sống trong cô bé Nguyễn Thị Quế (tên thật của chị), để sau này chị đã nhận được một học bổng toàn phần du học tại Đại học Monash (Úc). Nhờ học giỏi và tốt nghiệp thủ khoa, chị được một công ty bảo hiểm lớn nhất của Úc nhận vào làm việc. Công việc ổn định và sau đó chị quay trở về Việt Nam tham gia vào thị trường bảo hiểm phi nhân thọ với vai trò giám đốc kinh doanh từ năm 1998 đến năm 2001. Rồi số phận lại một lần nữa đưa đẩy chị rời xa quê hương. Lần này thì cất bước theo chồng, một người Đức làm ngoại giao tại Liên minh châu Âu. Bởi thế, công việc của chị quả là bận rộn, vì phải phụ trách truyền thông trải dài tới rất nhiều quốc gia trên thế giới. Chị đến với thơ tương đối muộn, song lại có những thành tựu đáng nể. Cho đến nay, chị đã có 3 tập thơ: “Trái cấm”, “Cởi gió” và “Những ngôi sao hình quang gánh” (song ngữ Anh - Việt). Thơ Quế Mai giàu nữ tính, trong sáng, giản dị và đằm thắm. Một số bài thơ của chị đã được giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật Hà Nội và được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Năm 2011, chị đã trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam. Thành thật chúc mừng chị.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #990000; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;Lần đầu tiên tôi gặp chị là trong một cuộc gặp gỡ các blogger tại Hà Nội năm 2008. Lúc đó chị và tôi chưa biết gì về nhau, cũng chỉ hỏi han vài câu xã giao. Khi ấy, tập thơ “Trái cấm”, tập thơ đầu tay của chị, vẫn chưa ra mắt bạn đọc mà đang được biên tập và tuyển chọn bởi nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo. Bẵng đi một thời gian, một hôm chị gọi điện và báo rằng sẽ có người mang tập thơ này đến cho tôi tại đại học bách khoa Hà Nội. Tôi rất ngạc nhiên và khi đọc lướt qua mấy bài thơ đầu tiên, tôi có cảm nhận là đang được gặp gỡ một giọng thơ thú vị và hay. Ngay trong ngày hôm đó, tôi viết &lt;a href="http://trinhquocdung.blogspot.com/2008/10/tri-cm-bao-gi-cng-l-tri-ngon.html"&gt;một bài cảm nhận về tập thơ này&lt;/a&gt;. Đây là bài cảm nhận đầu tiên về thơ mà tôi đã viết và viết nhanh kỷ lục (những bài cảm nhận, phê bình thơ hay văn, thông thường tôi viết rất lâu, có bài tới vài tháng). Kể từ đó, chị và tôi thân nhau hơn và cũng hay gặp gỡ hơn. Có một lần chị rủ tôi đi ăn trưa cùng với mấy nhà thơ khác mà tôi chưa hề quen biết. Không khí cuộc gặp gỡ hôm đó rất vui. Đang ăn, bỗng nhiên chị nói thầm vào tai tôi: “Em nhìn kìa, em gái kia dễ thương không?”. Tôi nhìn theo hướng chị chỉ và bắt gặp một ánh mắt dịu dàng và ngượng ngùng đang nhìn mình. Cũng chỉ có vậy. Ấy thế mà buổi tối chị đã gửi số điện thoại của người con gái đó và “bắt” tôi phải làm quen cho bằng được. Cô gái đó là Huyền, người đã cho tôi cảm xúc để viết bài thơ “&lt;a href="http://trinhquocdung.blogspot.com/2008/12/tng-h.html"&gt;Tặng H.&lt;/a&gt;” mà sau này có mấy em tên H. cứ nhận vơ bài thơ đó về mình.&amp;nbsp;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;b style="color: #990000;"&gt;&lt;br /&gt;Tiếp xúc với chị, tôi nhận thấy nét dịu dàng, nhạy cảm và chân thật từ cách nói chuyện cũng như trong suy nghĩ của chị. Có lẽ đó cũng là cách nghĩ, cách sống chân thành của những người dân Nam Bộ. Dù đã sống ở nước ngoài nhiều năm nhưng chị vẫn không “Tây” bao nhiêu, mà rất Việt Nam. Tôi quí mến chị nhiều hơn bởi cá tính này. Nhân dịp sắp sang năm mới Nhân Thìn, thành thật chúc chị và gia đình mạnh khỏe và an khang. Tôi cũng xin gửi lời chúc bạn bè gần xa một năm mới sức khỏe, may mắn và công việc hanh thông. Xin trân trọng giới thiệu với các bạn một bài viết của nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai về không khí Tết của miền đất phương Nam đầy nắng và gió…&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-R1m0HGgSxoE/TxszhmAOlHI/AAAAAAAAAuY/uh66cHD0gK4/s1600/rong_vang.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="261" src="http://2.bp.blogspot.com/-R1m0HGgSxoE/TxszhmAOlHI/AAAAAAAAAuY/uh66cHD0gK4/s400/rong_vang.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr style="color: red;"&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;b style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;i&gt;Chúc mừng năm mới Nhâm Thìn&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;i&gt;2012&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;Mỗi năm, khi những tờ lịch còn lại trên bàn mỏng đi, thì trí nhớ của tôi lại dày lên những ký ức về Tết. Tết trong tôi luôn bắt đầu từ những ngày thơ ấu, trong căn nhà nhỏ nép mình bên rặng dừa xanh ở ngoại ô thị xã Bạc Liêu, nơi mẹ tôi đã dành dụm gói gém tất cả tình yêu của mẹ dành cho gia đình, để Tết nở bung rực rỡ.&lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Hình ảnh Tết trong tôi là dáng mẹ ngồi bên hiên nhà. Tóc của mẹ xõa xuống che phủ một phần khuôn mặt sạm đi vì nắng gió và vất vả. Khuôn mặt ấy thoang thoảng niềm hạnh phúc khi mẹ chăm chú tước đi phần héo úa của những củ hành, củ kiệu. Tôi lăng xăng giúp mẹ rồi vui mừng trước rổ kiệu sáng ngời lên trong nắng và rổ hành lấp lánh ánh tím. Mẹ dạy tôi cách pha muối, đường, giấm …và cách cắt kiệu, cắt hành sao cho giữ được độ tươi, để hành và kiệu giòn tan trong miệng trong những ngày Tết sắp tới.&lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Khi những lọ thủy tinh đựng hành và kiệu sáng lên một góc bếp, thì cũng là lúc tôi được giao phó một công việc đặc biệt: hái dừa làm mứt. Mảnh vườn nhà tôi không lớn, nhưng có ba cây dừa trĩu quả, soi bóng xuống những chiếc ao lăn tăn vết cá quẫy. Những cây dừa không quá cao, nhưng chúng cũng đủ cao để thử thách kỹ năng leo trèo của tôi. Với sự dẻo dai của một đứa con gái đang lớn, tôi nhanh chóng thoắt mình lên cây, tựa mình vào những bẹ lá to vững chãi ở trên cao, chọn những quả dừa già vừa đủ, để mứt thơm, dẻo và mềm. Bố và anh trai tôi giúp chúng tôi tước sạch vỏ và bổ những trái dừa. Mẹ thưởng cho mỗi người một cốc nước dừa thơm ngọt, mát rượi, phần còn lại sẽ để dành để làm món thịt kho tàu cùng trứng – một món không thể thiếu được trong những bữa cơm ngày Tết ở miền Nam. Cạy cơm dừa ra khỏi chiếc sọ dừa cứng, mẹ hướng dẫn tôi cách gọt bỏ phần da nâu, rồi bào dừa thành từng miếng mỏng và dài. Bàn tay gầy với những đường gân xanh của mẹ chần sơ dừa qua nước nóng rồi ướp dừa cùng đường trắng. Khi dừa đã trong và đường đã tan hết, tôi nhóm lửa và giúp mẹ xào mứt. Mẹ dạy tôi cách xào với lửa thật nhỏ, đảo thật đều và nhẹ tay để mứt không đứt gãy. &lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Ngày ấy, trong căn bếp nhỏ được lợp bằng lá dừa nước, ngồi bệt trên một chiếc ghế nhỏ cạnh chiếc bếp được đốt bằng than củi, tôi đã cùng mẹ chuẩn bị rất nhiều loại mứt: mứt dừa, mứt gừng cay, mứt gừng dẻo, mứt bí đao…Tết gia đình tôi những năm ấy, sơn hào hải vị chính là những món mứt do chính tay mẹ và tôi tự làm – những món mứt còn ngọt và thơm trong ký ức tôi đến tận hôm nay. &lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Trong khi mẹ và tôi bận rộn với công việc bếp núc, bố và anh trai tôi cũng chuẩn bị cho một công việc đại sự của cả năm: đó là việc bắt cá ở chiếc ao cạnh nhà. Chiếc ao không lớn, nhưng hàng năm đều chứa đựng những bí mật của riêng nó. Bố tôi và anh trai tôi, mỗi người một đầu dây, dùng gàu tát nước vào con mương đằng sau nhà. Ao nước cạn dần, cùng với những tiếng quẫy ngày càng lớn của những chú cá lóc, cá trê, trắm cỏ, cá rô… Tôi thấy Tết đang về trong tiếng cười của anh tôi khi đầm mình vào lớp bùn đặc quánh, dâng lên cao đến hông, để chụp bắt những con cá đen trũi. Cả khuôn mặt của anh tôi lấm lem bùn, chỉ còn mỗi hàm răng là trắng. Chúng tôi đựng những con cá to và ngon nhất vào một chiếc xô to, đổ đầy nước và buộc đằng sau chiếc xe đạp của mẹ. Tôi vẫn còn nghe tiếng chuông xe đạp của mẹ lanh canh xa dần, khuất dần sau những cành mai đang vươn nụ. Rồi mẹ trở về vài tiếng sau đó, lưng áo đẫm mồ hôi. Mẹ ngồi và đếm những đồng tiền nhàu nát, cũ kỹ. Đó cũng là tiền ăn Tết của gia đình tôi.&lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Tiền bán cá giúp chúng tôi mua gạo nếp, thịt lợn, đỗ xanh, và lá dong. Dù đang sống ở miền Nam, nhưng bố mẹ tôi - những người gốc Bắc, không thể nào thiếu bánh chưng trong những ngày Tết. Hạnh phúc lớn nhất của tôi và anh tôi là được quây quần gói bánh chưng cùng bố tôi. Bàn tay khéo léo của bố thoăn thoắt gói từng chiếc bánh xanh vuông vức mà không cần bất cứ chiếc khuôn nào. Bố dạy chúng tôi cách xếp lá, đong gạo, xếp thịt, rải đỗ và trải lên đó một lượt nếp nữa. Bàn tay ông cẩn thận hướng dẫn chúng tôi cách bẻ lá sao cho bánh chưng thật vuông vức, và cách thắt nút lạt sao cho bánh chưng không bị bung khi nấu. Chúng tôi được tự tay mình gói những chiếc bánh bé xíu, để rồi tự tưởng cho mình những chiếc bánh ấy trong ba ngày Tết. &lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày mùng một Tết, tôi được mẹ mặc cho một bộ quần áo mới - bộ quần áo mới duy nhất của năm, rồi được mẹ dẫn đi chùa, đi thăm họ hàng, thầy cô. Tôi nép vào những bước chân của mẹ, rạo rực một niềm vui khó tả. Hai bên đường, vị thơm của Tết dâng lên từ những mái nhà đơn sơ. Những cành hoa mai rực nở, khoe sắc vàng cùng nắng mùa xuân.&lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Tôi nhớ một lần, mẹ đã dẫn tôi đi thăm một người quen, băng qua một cánh đồng lúa đang dào dạt sắc xanh. Cánh đồng trải mãi, trải mãi đến tận chân trời. Chúng tôi đi trong dào dạt hương lúa, và hương mùa xuân thênh thang ùa về từ mọi phía. Tôi ước mình được đi mãi, đi mãi trong lòng mùa xuân cùng mẹ như thế.&lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Sau này, tôi xa quê hương và phải ăn Tết ở những nơi xa lạ - nơi không có rặng dừa, ao cá, cánh đồng, không có anh trai và bố mẹ ở bên. Tôi phải mua tất cả những nguyên vật liệu chuẩn bị Tết từ chợ hoặc siêu thị. Dù cố gắng hết sức, nhưng những món ăn chuẩn bị cho ngày Tết những lúc xa quê vẫn thấy thiêu thiếu một loại gia vị nào đó. Và dù cố gắng hết sức để chạm tay vào Tết, cùng với cộng đồng người Việt ở những nơi tôi sống, nhưng tôi thấy không khí Tết thật sự lại ở bên bờ kia của đại dương - nơi những cành đào, cành mai đang ửng lên sắc thắm, nơi những gia đình đang quây quần tụ họp sau một năm vất vả làm việc. &lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Những năm đón Tết xa tổ quốc, giữa mùa hè bỏng nắng của nước Úc, dưới sự lạnh giá của mùa đông châu Âu, hoặc trong sự hờ hững của những nước châu Á nơi người dân không biết gì về Tết, tôi nôn nao thèm nắng ấm của ngày xưa, thèm nghe tiếng cá quẫy, và tiếng gió trên những đọt dừa non. Tôi thèm được hít hà hương thơm ấm nồng tỏa lên từ bếp của mẹ tôi, và mùi thơm của những nén hương trầm trên tay bố tôi, khi ông trịnh trọng thắp hương bên bàn thờ tổ tiên, mời ông bà tôi cùng về ăn Tết. Tôi thèm được nghe tiếng nô đùa của anh tôi cùng bạn bè trên con đường nhỏ thoai thoải vắt qua xóm nhỏ quê hương tôi, nơi những niềm vui bao giờ cũng bắt nguồn từ những điều chân chất và giản dị.&lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Có một điều gì đó thật thiêng liêng về Tết, mà chỉ có những người Việt Nam mới hiểu. Và vì thế, khi xa quê, những người Việt đều đau đáu mong ước được trở về nguồn cội để đón Tết, để được ấp đầy lồng ngực hương vị quê hương, để rồi bớt mong, bớt nhớ trong những tháng năm dài đằng đằng ở xứ người.&lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Manila, Philippines ngày 8/12/2011&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: blue; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;Nguyễn Phan Quế Mai&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-7588596778091027438?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/7588596778091027438/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=7588596778091027438' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/7588596778091027438'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/7588596778091027438'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2012/01/tet-cua-ngay-xua.html' title='Tết của ngày xưa'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-R1m0HGgSxoE/TxszhmAOlHI/AAAAAAAAAuY/uh66cHD0gK4/s72-c/rong_vang.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-7251306700156183974</id><published>2012-01-15T17:00:00.003+07:00</published><updated>2012-01-16T16:29:21.443+07:00</updated><title type='text'>Một lời biện hộ cho thơ</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Mới có mấy ngày đầu năm 2012, những tin tức về vụ việc Đoàn Văn Vươn, việc cô giáo xúc phạm học sinh khiến cho em đó phải tự tử, phiên tòa xét xử Lê Văn Luyện, bộ trưởng Đinh La Thăng định "móc túi" người dân bằng đề xuất thu phí phương tiện cá nhân, rồi những báo động về sự xuống cấp, suy thoái văn hóa, đạo đức mà người ta đã "biết rồi, khổ lắm, nói mãi" và cũng có nói thêm nữa thì có vẻ...vẫn như thế, làm tôi thêm đau đầu mệt xác. Định cầm bút viết gì đó cho bõ mệt nhưng mà nghĩ không ra cái gì hay cả. Tiếp tục đọc...Đọc thơ. Lại vớ phải mấy bài phê phán thơ tơi bời. Mấy tác giả bị phê phán là Mai Văn Phấn, Đinh Thị Như Thúy và Đỗ Doãn Phương, những người vừa được trao giải thưởng về thơ của Hội nhà văn năm 2011. Thơ của họ bị chê là vô lối, hũ nút, nửa dơi nửa chuột, thơ không ra thơ văn không ra văn và có người còn "kì công" dịch thơ họ ra tiếng...Việt, với mục đích dễ hiểu hơn. Nhưng mà, tôi đọc xong bài thơ "dịch" này thì thấy còn khó hiểu và vô ý nghĩa hơn cả bài thơ nguyên gốc. Hi hi. Đúng là chả có loại hình nghệ thuật nào mà dễ gây hiểu lầm và rắc rối như thơ cả. Thế thì tại sao thơ vẫn cứ tồn tại? Loài người có cần đến thơ nữa hay không? Thơ để làm gì cho con người? Đang miên man suy nghĩ tìm câu trả lời (mà chẳng bao giờ có câu trả lời thỏa đáng), tôi chợt đọc được bài viết thật hay này. Bài viết của tác giả Marcel Reich Ranicki, nhà phê bình có ảnh hưởng nhất tới văn học đương đại Đức. Bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang (Đức). Xin mời các bạn...&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-mH_LOQThtio/TxKjK3IZWEI/AAAAAAAAAuQ/giyM7JMqZ6o/s1600/22429.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="278" src="http://2.bp.blogspot.com/-mH_LOQThtio/TxKjK3IZWEI/AAAAAAAAAuQ/giyM7JMqZ6o/s400/22429.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Marcel Reich Ranicki. Nguồn: www.lwl.org&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Xin cứ nói thẳng: Thơ ư, có thật cần không? Hàng triệu người sống không thơ mà có sao đâu. Họ chẳng biết gì đến thơ mà vẫn hoàn toàn hạnh phúc. Họ chẳng thấy thiếu gì hết và còn tránh được khối điều phiền toái. Bởi thơ là một thể loại văn chương vô cùng đáng ngờ - và có đủ lí do để nhắc nhở ta hãy coi chừng nó. Trong văn xuôi người ta đánh bài ngửa, còn trong thơ nhiều khi lại đánh lận con đen. Thơ vốn luôn là chốn dung thân của những kẻ chẳng có gì đáng nói song lại thích được người khác nghe, những kẻ chuộng hát bởi không biết nghĩ, những kẻ buộc phải gieo vần bởi viết là thứ rào cản mà họ không sao vượt nổi.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Cái không tiêu thụ nổi trong văn xuôi lại được nhiều tác giả bày bán xổi trong thơ và cũng tìm được khách mua. Điều quá rồ dại để có thể nói xuôi thì họ lại thích đem ra để ngâm nga. Phải chăng thi sĩ là những ca sĩ giọng nam cao trong giới cầm bút? Có một điều chắc chắn là âm giai êm ái của ngôn từ – hay ít ra là cái được cho là êm ái – có thể dễ dàng che đậy sự nghèo nàn của trí tuệ. Ai trịnh trọng ngâm và xướng, kẻ đó không cần sợ bị chất vấn về ý nghĩa và mức độ thông minh trong lời lẽ của mình.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Vâng, người ta yêu cảnh mờ tỏ và cái bí ẩn hơn là sự rõ ràng và tỉnh táo, tin vào bùa chú hơn vào phân tích. Những nhà tư tưởng ở đất nước này được đánh giá cao nhất khi họ làm thơ và những nhà thơ trước hết được ca ngợi khi họ không còn biết suy nghĩ. Việc lợi dụng hình thức thơ để lẩn tránh vào sự không rõ ràng và mơ hồ, để rút lui vào một tình trạng không thể kiểm soát và xa vời đến tận các huyền thoại về Đức Thánh mẫu đã và có lúc vẫn đang còn là một tai ương cố hữu trong nền văn học của chúng ta.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Và như vậy, ở Đức, thơ là chốn ẩn mình của những tác giả có tài và bất tài, song đều chung nhau ở một điểm là ít dính dáng đến trí tuệ. Và của một công chúng dễ dãi chấp thuận yêu cầu: đến đây để hát theo, chứ không phải đến đây để cùng suy ngẫm! Sở dĩ chúng ta, dân tộc của các thi sĩ và các nhà tư tưởng, lại có được cái quan niệm rằng người ta chỉ có thể hoặc là thi sĩ, hoặc là nhà tư tưởng chứ khó lòng là cả hai, là do ảnh hưởng của một nhân vật lớn, người đã gieo rắc biết bao tai hoạ bằng vô số ý kiến của mình về văn chương, đặc biệt là về thơ và phê bình. Tôi đang nói về Goethe.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Trong tác phẩm “Phương châm và suy ngẫm” ta thấy nhận định nguy hiểm sau đây: “Thông qua tư duy người ta đạt đến nghệ thuật và khoa học; với thi ca thì không như vậy, bởi thơ là ngẫu hứng…” (1) Xin đừng tưởng bở: Đây không phải là một sơ suất ngoại lệ. Đáng tiếc là Goethe vẫn thường nhắc đi nhắc lại những điều tương tự. Chẳng hạn trong khi trò chuyện với Eckermann ông đã tuyên bố không hề ngượng ngập như sau: “Một tác phẩm thi ca càng độc nhất vô nhị và khó nắm bắt đối với trí tuệ bao nhiêu thì lại càng hay bấy nhiêu” (2).&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Suốt một thể kỉ ở nước Đức những câu văn như vậy đã được trích dẫn một cách sùng kính. Nối tiếp mạch của Goethe, người ta luôn biện hộ cho cảm hứng, dè bỉu lí trí và khẳng định một cách hoàn toàn nghiêm trang rằng làm thơ sẽ gây rối mạch tư duy, và tư duy về phần nó cũng sẽ làm tổn hại nghệ thuật thi ca yêu kiều. Cơ sở cho thái độ này có lẽ là đức tin về sức mạnh giải thoát của thi ca.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Thế nhưng thi ca nào đã giải thoát được ai. Nó cũng ít phù hợp với mục tiêu sư phạm. Ai muốn khai sáng hay truyền thụ cho người cùng thời thì nên viết một bài báo hay một luận văn, thay cho việc viết một khúc tụng ca. Xin nói thêm ngay: còn ai cho rằng những vần thơ có thể tác động vào tiến trình của lịch sử, người đó theo đuổi những ảo tưởng thật ấu trĩ. Không, nhà thơ không thể nào thay đổi được thế giới. Người vẫn thường nói không mệt mỏi về điều này, Bertolt Brecht, chí ít còn có thể tự khen rằng những bài ca công nhân của mình do Hans Eisler phổ nhạc đã được lưu truyền rộng rãi vào những năm cuối của chế độ Cộng hoà Weimar. Tuy nhiên “Bài ca về tình đoàn kết” chẳng hề xây dựng nổi tình đoàn kết của giới thợ thuyền, và “Bài ca về Mặt trận thống nhất” cũng không gây được ảnh hưởng nào đến Mặt trận thống nhất, cũng như những khúc hát trong “Vở Opera ba xu” chẳng thể cải tạo được giới công chúng sân khấu tư sản Berlin.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Vậy sẽ ra sao nếu nhà thơ được trao cho mình quyền lực để thay đổi thế giới? Liệu đây có thực là điều đáng mong muốn? Đã có quá nhiều lần họ phục vụ cho bạo quyền, qua bao thế kỉ họ đã truyền tụng quá nhiều điều điên rồ dưới lớp vỏ bọc không ít khi hấp dẫn để người ta – dù chỉ trong một tích tắc – có thể coi đây là một câu hỏi nghiêm túc. Ngay Platon cũng từng muốn tránh thật xa các thi sĩ. Vậy chúng ta cũng hãy nên cẩn trọng trước những kẻ sĩ ít đáng tin cậy nhất này. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu ta có thể từ bỏ họ, liệu ta có cần đến họ ngày hôm nay, đặc biệt trong ngày hôm nay?&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-r34OXzhZNGA/TxKh7hZp7JI/AAAAAAAAAuI/zaPv7rhmhpI/s1600/4b71.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="300" src="http://3.bp.blogspot.com/-r34OXzhZNGA/TxKh7hZp7JI/AAAAAAAAAuI/zaPv7rhmhpI/s400/4b71.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Nhà thơ La Mã cách đây hai nghìn năm đã không nhầm khi tự hào tuyên bố rằng với các bài tụng ca của mình đã dựng nên một tượng đài có độ bền vững hơn cả đồng. Thật vậy, các tác phẩm thi ca, những cấu trúc mong manh được chế tạo từ một thứ nguyên liệu dễ mai một nhất là lời nói, lại có thể trường tồn qua hàng thiên niên kỉ, hơn mọi thứ miếu đền và cung điện. Cũng không thể phủ nhận rằng thi ca có lúc có khả năng – cho dù không thay đổi được ngay thế giới – song có thể làm cho thế giới đó trở nên dễ chịu hơn. Vâng, nó có thể lay động con người khỏi trạng thái thờ ơ, và thậm chí có thể đánh bật nó khỏi những lối mòn tư duy cố hữu.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Thật là thừa, nếu không nói là ngớ ngẩn, khi chúng ta định tìm cách xếp thơ vào một vị trí cao hơn so với kịch hay văn xuôi. Thơ không hay hơn mà cũng chẳng sâu sắc hơn các thể loại văn chương khác. Thơ mang đặc tính khác, nó đi xa hơn. Nhà thơ không thể giấu mình, trong thơ anh ta phải đối diện với chính bản thân. Thơ là hình thức nhiều rủi ro nhất và vô liêm sỉ nhất trong mọi thể loại văn chương. Một nhà thơ – Goethe từng nói như vậy và lần này ông đã không nhầm – có tự giấu mình cũng bằng thừa, bởi “thơ tức là phản”. Nhà thơ là những kẻ khoả dục chuyên nghiệp, có khác chăng là không phải họ thi ca hoá sự loã lồ của mình, mà họ tự bóc trần bản thân trong thi ca. Chính vì vậy mà thông thường ta có thể chấp nhận một vở kịch tồi hay một cuốn tiểu thuyết trung bình hơn là một bài thơ nghèo nàn. Nhà viết kịch tìm cách kéo sự chú ý của người đọc vào nhân vật của mình, và nhà tiểu thuyết thu hút sự quan tâm của chúng ta đối với thế giới mà ông ta muốn mô tả. Còn nhà thơ ngược lại luôn luôn và trước hết chỉ hướng sự quan tâm đến chính bản thân. Thế nhưng loã thể là khiêu khích môi trường xung quanh. Tác phẩm kịch, có thể nói như vậy, là một lời mời chào và tiểu thuyết là một cuộc hẹn hò, còn thơ – đấy đã là một sự khiêu khích.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Gần đây tôi có đọc một nhận xét cho rằng nhà thơ giống như một kẻ đang bơi và hình thức chính là chiếc phao cứu hộ anh ta.(3) Hình ảnh này xem ra không được may mắn lắm. Bởi nếu vậy thì người ta cũng có thể nói rằng chiếc phao cứu của nhà vĩ cầm chính là cây đàn vi-ô-lông. Không, tác phẩm thơ không thể náu mình dưới mái nhà che chở của hình thức, bởi chính bản thân nó đã là hình thức. Và chỉ với hình thức, nó mới có lí do để tồn tại.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Mặc dù vậy người ta vẫn phải phản bác Stefan George, người từng có lần viết: “Giá trị của thi ca không được quyết định bởi nội dung (nếu vậy thì nó đã là sự thông thái, sự uyên bác), mà bởi hình thức”(4). Tôi cho rằng người ta phải tối kị việc dùng cái này để đối chọi với cái kia: Sự chia cắt thật đáng tiếc, nếu không nói là là đầy tai hại thường có trong văn chương giữa nội dung và hình thức, trở nên thừa trong thơ. Bởi hình thức – đó chính đã là nội dung của thơ. Phải chăng thế giới của chúng ta – cái vốn đem đến cho nhà tiểu thuyết, và ở một mức độ cao hơn nữa cho nhà viết kịch, những khó khăn lớn và thường là không thể nào khắc phục – lại không khước từ sự diễn đạt của thơ: Khi nhà viết kịch câm lặng và nhà tiểu thuyết dường như phải bó tay, thi sĩ chính là người mang thiên chức nói về nỗi đau của bản thân họ, nói về nỗi đau của chúng ta.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Người ta vẫn hay trách thi ca đương đại rằng nó thường quá ảm đạm, quá bi quan và thậm chí hư vô. Thế nhưng chủ nghĩa lạc quan, chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa hư vô – với những phạm trù như vậy ta chưa bao giờ tiếp cận nổi thi ca. Liệu Holderlin có phải là người bi quan? Heine hay Brecht là những người lạc quan chăng? Benn có phải thật sự là một kẻ hư vô? Chỉ cần đặt những câu hỏi như vậy đã đủ thấy chúng không thích hợp và tầm phào hết sức. Ngày nay chính những bài thơ ảm đạm lại hàm chứa những bước đột khẩu và đem đến cho ta những tia chớp sáng. Một cách nghịch lí, thường bóng tối chính lại là nơi khởi đầu của ánh sáng.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Nhưng có thể quy nguyên nhân cho cuộc phục hưng của thơ mà có người đã gọi một cách dè bỉu là “đợt sóng thơ” về chỗ nào? Thời đại của chúng ta càng vô vọng bao nhiêu, viễn cảnh tương lai của chúng ta càng ảm đạm bao nhiêu, thế giới vây quanh ta càng xáo động và hỗn mang bao nhiêu, nhu cầu của chúng ta lại càng lớn hơn, nhu cầu về… Ừ, nhu cầu về cái gì nhỉ? Nhu cầu được an ủi chăng? Có thể là như vậy, song thi ca sẽ không mang đến cho chúng ta sự an ủi. Cung cấp thuốc an thần và giảm đau cho dân chúng, đó không phải là nhiệm vụ của thi ca mà là của ngành dược phẩm.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Không, thơ không thể an ủi và vỗ về lòng ta. Tuy nhiên chỉ với sự hiện hữu của nó, nó đã xác nhận sự ghê tởm của ta trước cảnh hỗn mang. Hay thậm chí ta có quyền nói rằng, nó đáp ứng nhu cầu hướng đến cái trật tự của chúng ta? Chắc chắn có một điều này: Ai làm thơ, người đó kháng cự sự hỗn mang và tuỳ tiện. Làm thơ tức là lập trật tự. Trong khúc thứ tám của “Bi ca Duineser” có câu rằng: “Ta lập trật tự. Trật tự tan rã. Ta sắp xếp lại trật tự, và chính bản thân ta cùng tan rã.” Những lời này của Rilke trước hết có ý nghĩa đối với các thi sĩ.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Một khi trật tự là phương châm của thơ thì người ta chẳng nên ngạc nhiên khi thấy những người mà nhờ có họ chúng ta có được những hình ảnh riêng tư nhất, chủ quan nhất, mong manh nhất của văn chương lại cũng chính là những kẻ không hề ngần ngại phân tích và đánh giá một cách công khai các sản phẩm thi ca của những người đồng thời và đồng nghiệp. Khác với các nhà tiểu thuyết và sáng tác kịch, thi sĩ hầu như cũng luôn luôn đồng thời là nhà phê bình thơ. Và điều đó trước tiên gắn liền với ý thức sâu sắc về hình thức của họ.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Ý thức nổi bật về hình thức của các nhà thơ của chúng ta cũng giúp cho việc những lời đơn giản như “Thơ hôm nay” hàm chứa nhiều hơn là một ước vọng hay một sự bày tỏ – nó gần như đã là một thứ cương lĩnh bướng bĩnh. Thi ca vẫn thường xuyên là sự phản kháng và chống đối. Ai làm thơ, người đó nổi loại chống lại cái vô hằng. Ngay cả khi nó báo trước về sự sụp đổ, tôn thờ cái chết và ca ngợi sự suy tàn, thi ca – dù nó muốn hay không – vẫn bác bỏ sự sụp đổ, cái chết và suy tàn. Thơ là sự khẳng định cuộc sống. Vì vậy mà hôm nay vai trò của thơ ngày càng lớn: Sự thừa thắng của nó, sự thừa thắng mang vẻ sầu muộn mà khối người chưa hề để ý hoặc chỉ miễn cưỡng ghi nhận, có nguyên do sâu sắc nhất ở đây. Rõ ràng là câu trả lời của văn chương mà chúng ta đang trông đợi giữa đe doạ và hiểm nguy dường như chỉ có thể đến từ thể loại triệt để nhất của nó – thi ca.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên nhà thơ chạy theo sau thời cuộc sẽ chẳng bao giờ đuổi kịp nó mà thường sẽ bị thời cuộc nghiến nát. Còn nhà thơ nhắm mắt làm ngơ trước thời đại sẽ bỏ lơi nghĩa vụ của mình. Những người kế tục của Heym và Trakl, Benn và Brecht không để mình mắc lỗi lầm nọ hay lỗi lầm kia. Có những bài thơ Đức trong những năm tháng này chỉ hướng tới những chi tiết nhỏ nhặt của thực tại mà đã nhắm vào tâm điểm của nó. Và nếu như ngày nay ở những nhà thơ rất khác nhau, trẻ cũng như già, ngày càng thấy rõ khuynh hướng tìm đến hình thức chặt chẽ hơn – hướng tới những khuôn mẫu cổ điển của thi ca, của vần khổ, hướng tới những nguyên tắc lập trật tự của thơ, thì ta đừng hiểu đấy là sự chạy trốn khỏi thời gian, mà có lẽ đấy là phản ứng trực diện và tự tin trước sự rối ren của thời đại, trước những thảm hoạ và sự ghê rợn của nó.&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Cho dù người ta nhìn nhận cách nào đi nữa thì thi ca vẫn là một thực thể hai mặt. Sự cảnh báo của Platon có những cơ sở vững vàng của nó. Vâng, thể loại văn chương lâu đời nhất, mà cũng đáng ngờ và nguy hiểm nhất này đồng thời là thể loại táo bạo và triệt để nhất, nhạy cảm nhất. Tuy nhiên ở đây ta cần phải suy nghĩ, liệu không có mặt này thì mặt kia có thể tồn tại được không. Heine có lần đặt câu hỏi rằng, liệu thi ca có phải là một căn bệnh của nhân loại, “như viên ngọc thực ra chỉ là tác nhân khiến loài trai khốn khổ.”(5) Nếu Heine có lí thì thi ca hẳn là căn bệnh lạ lùng, và có thể nói là căn bệnh đẹp nhất của nhân loại. Và có lẽ chưa bao giờ chúng ta cần đến cái đẹp nhiều hơn là ngày hôm nay. Thế nhưng liệu nó chỉ đẹp thôi, hay còn hữu ích? Thường thì thi ca cũng hữu ích, hữu ích bởi vì đẹp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;MARCEL REICH-RANICKI&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;TRƯƠNG HỒNG QUANG dịch &lt;br /&gt;(Từ nguyên bản tiếng Đức)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;———————–&lt;br /&gt;(1) Johann Wolfgang Goethe: “Artemis-Gedenkausgabe” (“Bản in tưởng niệm Artemis”). Tập 9, tr. 602.&lt;br /&gt;(2) Johann Peter Eckermann: “Gesprche mit Goethe in den letzten Jahren seines Lebens” (“Trò chuyện với Goethe vào những năm cuối đời”), do Ernst Beutler chủ biên và giới thiệu. “Artemis-Gedenkausgabe”. Tập 24, tr. 636.&lt;br /&gt;(3) Cách diễn đạt này là của Harald Hartung trong bài viết đáng chú ý “Das Gedicht und die Regel” (“Tác phẩm thơ và niêm luật”). Xem: “Merkur” 1980, Số 10.&lt;br /&gt;(4) Stefan George: “Werke” (“Tác phẩm”). Tác phẩm gồm bốn tập. NXB Deutscher Taschenbuch Verlag, Mnchen 1983. Tập 2, tr. 310.&lt;br /&gt;(5) Heinrich Heine, “Samtliche Schriften” (“Toàn tập tác phẩm”). Do Klaus Briegleb chủ biên. NXB Carl Hanser Verlag, Mnchen 1968 và các năm tiếp theo. Tập 3 (1971), tr. 441.&lt;br /&gt;&amp;nbsp; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-7251306700156183974?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/7251306700156183974/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=7251306700156183974' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/7251306700156183974'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/7251306700156183974'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2012/01/mot-loi-bien-ho-cho-tho.html' title='Một lời biện hộ cho thơ'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-mH_LOQThtio/TxKjK3IZWEI/AAAAAAAAAuQ/giyM7JMqZ6o/s72-c/22429.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-7059997921921323359</id><published>2012-01-08T15:02:00.000+07:00</published><updated>2012-01-08T15:02:06.838+07:00</updated><title type='text'>Tình điên</title><content type='html'>&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt; &lt;w:WordDocument&gt;  &lt;w:View&gt;Normal&lt;/w:View&gt;  &lt;w:Zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;  &lt;w:TrackMoves/&gt;  &lt;w:TrackFormatting/&gt;  &lt;w:PunctuationKerning/&gt;  &lt;w:ValidateAgainstSchemas/&gt;  &lt;w:SaveIfXMLInvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;  &lt;w:IgnoreMixedContent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;  &lt;w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;  &lt;w:DoNotPromoteQF/&gt;  &lt;w:LidThemeOther&gt;EN-US&lt;/w:LidThemeOther&gt;  &lt;w:LidThemeAsian&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeAsian&gt;  &lt;w:LidThemeComplexScript&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeComplexScript&gt;  &lt;w:Compatibility&gt;   &lt;w:BreakWrappedTables/&gt;   &lt;w:SnapToGridInCell/&gt;   &lt;w:WrapTextWithPunct/&gt;   &lt;w:UseAsianBreakRules/&gt;   &lt;w:DontGrowAutofit/&gt;   &lt;w:SplitPgBreakAndParaMark/&gt;   &lt;w:DontVertAlignCellWithSp/&gt;   &lt;w:DontBreakConstrainedForcedTables/&gt;   &lt;w:DontVertAlignInTxbx/&gt;   &lt;w:Word11KerningPairs/&gt;   &lt;w:CachedColBalance/&gt;  &lt;/w:Compatibility&gt;  &lt;w:BrowserLevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;  &lt;m:mathPr&gt;   &lt;m:mathFont m:val="Cambria Math"/&gt;   &lt;m:brkBin m:val="before"/&gt;   &lt;m:brkBinSub m:val="&amp;#45;-"/&gt;   &lt;m:smallFrac m:val="off"/&gt;   &lt;m:dispDef/&gt;   &lt;m:lMargin m:val="0"/&gt;   &lt;m:rMargin m:val="0"/&gt;   &lt;m:defJc m:val="centerGroup"/&gt;   &lt;m:wrapIndent m:val="1440"/&gt;   &lt;m:intLim m:val="subSup"/&gt;   &lt;m:naryLim m:val="undOvr"/&gt;  &lt;/m:mathPr&gt;&lt;/w:WordDocument&gt;&lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt; &lt;w:LatentStyles DefLockedState="false" DefUnhideWhenUsed="true"  DefSemiHidden="true" DefQFormat="false" DefPriority="99"  LatentStyleCount="267"&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="0" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Normal"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="heading 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 7"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 8"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 9"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 7"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 8"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 9"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="35" QFormat="true" Name="caption"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="10" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Title"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="1" Name="Default Paragraph Font"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="11" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Subtitle"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="22" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Strong"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="20" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Emphasis"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="59" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Table Grid"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" UnhideWhenUsed="false" Name="Placeholder Text"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="1" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="No Spacing"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light List"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" UnhideWhenUsed="false" Name="Revision"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="34" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="List Paragraph"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="29" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Quote"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="30" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Intense Quote"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 1"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 2"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 3"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 4"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 5"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 6"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="19" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Subtle Emphasis"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="21" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Intense Emphasis"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="31" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Subtle Reference"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="32" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Intense Reference"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="33" SemiHidden="false"   UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Book Title"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="37" Name="Bibliography"/&gt;  &lt;w:LsdException Locked="false" Priority="39" QFormat="true" Name="TOC Heading"/&gt; &lt;/w:LatentStyles&gt;&lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt;&lt;style&gt; /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable	{mso-style-name:"Table Normal";	mso-tstyle-rowband-size:0;	mso-tstyle-colband-size:0;	mso-style-noshow:yes;	mso-style-priority:99;	mso-style-qformat:yes;	mso-style-parent:"";	mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;	mso-para-margin:0in;	mso-para-margin-bottom:.0001pt;	mso-pagination:widow-orphan;	font-size:11.0pt;	font-family:"Calibri","sans-serif";	mso-ascii-font-family:Calibri;	mso-ascii-theme-font:minor-latin;	mso-fareast-font-family:"Times New Roman";	mso-fareast-theme-font:minor-fareast;	mso-hansi-font-family:Calibri;	mso-hansi-theme-font:minor-latin;	mso-bidi-font-family:"Times New Roman";	mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}&lt;/style&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal"&gt;&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;&lt;span lang="DE"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal"&gt;&lt;i&gt;&lt;span lang="DE"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal"&gt;&lt;i&gt;&lt;span lang="DE"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-okCIPDLYSYQ/TwlNXH9uQuI/AAAAAAAAAto/d8QnqzEQL64/s1600/hans_hoffman_indian_summer_1959.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="268" src="http://1.bp.blogspot.com/-okCIPDLYSYQ/TwlNXH9uQuI/AAAAAAAAAto/d8QnqzEQL64/s320/hans_hoffman_indian_summer_1959.jpg" width="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal"&gt;&lt;i&gt;&lt;span lang="DE"&gt;một đêm mưa...&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span lang="DE"&gt;Em rất yêu của anh,&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt;giờ này chắc em đang ngon giấc bên những chú gấu bông thân thương. Trờitrở lạnh và mưa tầm tã. Có lẽ ông Trời cũng buồn em ạ, vì ông ấy có tâm trạnggiống như anh bây giờ. Từng giọt nhớ cứa vào con tim khiến anh cảm thấy lạnhgiá và trống trải quá chừng. Anh chợt nhận ra một điều: &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Anh đang rất nhớ em!&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt; &lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt;Khi anh cần em. Anh nhắm mắt lại và thấy mình đang ở bên em, anh rót vàotai em những lời dịu ngọt. Anh nắm đôi tay mềm mại của em. Em sẽ trao anh nụhôn nồng cháy, những nụ hôn trên đôi môi em ẩm ướt mà anh ngỡ như vầng trăng nguyệtthực trong hương đêm huyền diệu. Trăng em hay trăng anh. Em nuốt anh trong suốitóc dịu êm. Anh và em cuộn xiết trong hoan lạc, trong ngục tù của đê mê…&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt;Khi anh nhớ em. Anh đạp tung cánh cửa và chạy ra ngoài đường. Đôi tayanh run rấy vì đi dưới mưa mà không có em. Anh uống những hạt mưa tình yêu từtrái tim em. Thế mà vẫn không đủ, vẫn thấy khát khao. Anh đang điên… Tình điên.Ừ, thì tình điên, em ạ. Người khác sẽ cho anh là một kẻ kỳ quặc hay là một kẻmất trí, anh cũng mặc kệ. Anh sẽ nhờ hạt mưa chuyển giùm hơi ấm còn lại từ cơthể anh đến bên chiếc giường nơi em nằm. Làn hơi ấm từ anh sẽ ru em ngủ, sẽ ủấm những đường cong trên cơ thể em. Em đừng cười anh, đừng bảo anh điên em nhé.Vì chỉ cần điên vì em, anh sẵn sàng, anh ngàn lần muốn thế. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt;Em ơi, anh đang đếm từng hạt mưa như những kẻ xa nhau trong đêm tối u ẩn.Những giọt mưa hay giọt ấm diệu vợi nơi em. Anh tìm cách gọi điện thoại cho em.Gọi mà không có tiếng trả lời. Gọi mà chỉ nghe thấy giọng nói đều đều, vô cảmtừ tổng đài điện thoại. Anh lên mạng để nói chuyện với em. Nhưng em khôngonline. Buồn. Chán. Anh viết những tin nhắn gửi tới em, để sáng mai em sẽ nhậnđược. Em ngủ rồi, biết ai nói với anh nữa. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt;“Đêm nghe tiếng mưa rơi, đếm mấytriệu hạt rồi, mà chưa vơi nỗi nhớ…”.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt; Không biết đến bao giờ anh mới có thể được gặp lại em, người mà anh đãthầm yêu trong lần đầu gặp mặt. Chỉ mình anh lạc bước trên con đường mà ta đãtừng đi qua trong những buổi chiều vương nắng. Em ơi, sao tình em mỏng manh nhưsương khói? Sao em không trả lời anh, dù chỉ một câu thôi. Em lảng tránh, khôngcho anh gặp em. Ai sẽ cùng anh nghe những bản nhạc tình trong đêm? Anh sẽ viếtthơ cho ai khi em đã xa anh. Anh biết tìm em đâu trong cõi xa vời... &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt;Mưa mỗi lúc một nặng hạt. Mưa rơi hay nỗi buồn anh rơi. Anh biết là em vẫnnhớ anh, vẫn yêu anh. Anh cũng hiểu lý do mà em muốn tránh mặt anh, không muốngặp anh. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="mso-ansi-language: EN-US;"&gt;Đêm đã tàn, những giọt mưa cuối cùng cũng dứt. Tiếng chuông nhà thờ vừađổ, báo hiệu một ngày mới. Chắc là em sắp dậy và sẽ đọc được tin nhắn của anh.Khi em đọc được những dòng tin nhắn đó thì ở một nơi rất xa, có một kẻ đang đivề hướng mặt trời. Ở đó, anh ta sẽ thấy màu xanh trên những triền núi xa xa. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-7059997921921323359?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/7059997921921323359/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=7059997921921323359' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/7059997921921323359'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/7059997921921323359'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2012/01/tinh-ien.html' title='Tình điên'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-okCIPDLYSYQ/TwlNXH9uQuI/AAAAAAAAAto/d8QnqzEQL64/s72-c/hans_hoffman_indian_summer_1959.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-8775923235298980826</id><published>2011-12-29T02:29:00.003+07:00</published><updated>2011-12-29T02:33:57.432+07:00</updated><title type='text'>Nhiên sơ - Kiệu rước một mùa sang</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-y82u5HQzpEI/TvtttQY6q6I/AAAAAAAAAtg/Nuu3RFpVl84/s1600/nhien+so.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="213" src="http://3.bp.blogspot.com/-y82u5HQzpEI/TvtttQY6q6I/AAAAAAAAAtg/Nuu3RFpVl84/s400/nhien+so.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Mới lần đầu ghé trangnhà blog của chị, đập vào mắt tôi là những bài thơ ngang dọc, không vần vèo,thú thực tôi không có ấn tượng gì đặc biệt (tôi vốn ghét thơ). Chỉ có ấn tượngbởi mấy bức ảnh chân dung trong đó. Nhưng mà lại không thích người, chỉ mê vì cảnhđẹp. Rồi cũng nán lại “đọc tạm” vài bài thơ ở đó. Chẳng thấy hay ho gì cả,cũng… bình thường thôi. Tôi nghĩ vậy và rồi quên đi nhanh chóng...&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Thế mà tự dưng sau đó lạiđọc được câu này: &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Cát nơi ấy/trùng khơinơi ấy/em mang về/vời vợi chiết vào thơ”&lt;/i&gt;. Những câu thơ ám gợi người đọc vềbiển cả, về trùng dương cát trắng. Một nỗi chia xa, nỗi đớn đau đem chưng cấtthành những câu thơ. Thơ như thế ắt hẳn phải mặn và chát lắm.&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Không ai biết thơ xuấthiện từ khi nào. Cũng chẳng biết lúc nào thì thơ sẽ không còn tồn tại. Chỉ có mộtđiều này, mà nói như nhà thơ người Mỹ - William Carlos Williams: &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Không thể tìm ra các tin tức trong thơ, thếnhưng hàng ngày, con người vẫn chết thê thảm vì họ thiếu những điều chỉ tìm thấytrong thơ”.&lt;/i&gt; Nghe sợ quá! Những điều gì ở thơ mà khiến người ta phải chết tứctưởi như vậy?&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Từ xa xưa, kinh kỳ là mảnhđất phồn hoa đô hội, bao nhiêu tinh hoa tứ xứ đều về quần tụ tại đây. Đó dĩnhiên cũng là nơi mà các tài tử văn nhân gặp gỡ và đàm luận. Thế nên, ngày naychúng ta mới có một hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan, một sắc sảo của Hồ XuânHương, một hỏm hỉnh của Đoàn Thị Điểm và còn nhiều giai thoại văn chương khác nữa,để giật mình kinh dị trước những con người tài danh này. Đọc thơ chị, tôi cũnggặp cái giật mình đó. Giật mình &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“của chuasấu rụng sân đình”&lt;/i&gt; trong dải áo Thị Mầu, &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“hồng hồng tuyết tuyết”&lt;/i&gt; trầm tĩnh, bác học trong làn điệu ca trùkhi người ca nương lạc bước đêm về Quán Thánh, ngỡ ngàng phiêu diêu trong áo lụaHà Đông. Đến khi trở sáng, tỉnh giấc nồng nàn, tôi bắt gặp &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“đắm đuối ngơ ngẩn nhìn/rụng mùa ngân xuyến”&lt;/i&gt; và &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“rơi giọt trong veo mùa quyến luyến”&lt;/i&gt; mà bóngđêm vô tình lưu lại trong tâm trí. &amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Nhiều người nhận xét,con gái Hà Thành kiêu sa và đài các. Riêng tôi thì thấy họ thật thông minh và tinhtế. &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Em gấp thời gian thành bước nhảy/bốnchiều/Trái Đất bẻ cong không gian từ mọi hướng/Chạm vào thân thể anh/Vòng cungđịnh hình xoay ngược”&lt;/i&gt; là sự thông minh trong tưởng tượng hình ảnh và liên kếtcác hành động với nhau. &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Con đườngkhuya/Thả lên môi lời lá rụng/Lẫn vào tiếng chuông rơi/Cơn sóng níu bờtrôi…trôi…”&lt;/i&gt; là sự tinh tế trong quan sát sự vật và thể hiện cảm xúc của chủthể. Như thế, nếu họ có kiêu sa hay đài các cũng phải thôi, vì đó là sự tự tincủa những người phụ nữ bản lĩnh và biết rõ giá trị của mình. &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Em chỉ giản đơn con gái Hà Thành/Đã biết trắngcùng anh…/Đã biết xanh cùng anh…/Đã biết cười cùng anh…”&lt;/i&gt;. Vâng, con gái HàThành là như thế đó.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Ám ảnh về văn hóa ThăngLong hiển hiện trong rất nhiều bài thơ của chị. Đó cũng là mạch tiếp nối cái giậtmình trước sự tài hoa của tiền nhân thuở trước. Một tiếng chuông la đà Trấn Vũ,một bóng chim sâm cầm chao liệng giữa khung trời nhỏ hay chỉ là nỗi e ấp củabông hoa nhài chúm chím trong nắng mai cũng khiến người phụ nữ nhạy cảm này xaođộng &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Phía cành trúc chao nghiêng tráitim em/đã hóa thành ngọn sóng/Vỗ tiếng chuông ngân/Biến thành câu hát” &lt;/i&gt;vàrun rẩy &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Hương nhài lỡ kiếp trờiđày/Vương chiều Yên Phụ dứt day sâm cầm”&lt;/i&gt;. Nơi đó vẫn còn &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Huyền mị đêm mắt tím/Thăm thẳm Cổ Ngư giótràn chớp khóe môi đầy”&lt;/i&gt; khiến &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Cho emđược hé cánh sen chiều trong trắng/Để ngọc ngà non nuốt mãi Tràng An”&lt;/i&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạođã từng nhận xét rằng, phái nữ thường mạnh về thơ tình. Quả thật vậy. Trong thơchị, đậm đặc một khát khao yêu đương bỏng cháy của người phụ nữ Á Đông. Chấtmen tình này cứ lênh lang, sóng sánh trong từng câu, từng chữ ở mỗi bài thơ. Làngười xinh đẹp và thông minh nên chị biết rõ cái cảm giác chênh vênh, mỏng manhcủa tình yêu sẽ đưa mình đi tới đâu và về đâu. Để từ đó mà thấy được cái &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;nhiên sơ&lt;/i&gt; của tình yêu &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Từ thoạt kỳ thủy/là muôn đời/âm thanh đầutiên của loài người: Anh yêu Em!”&lt;/i&gt; và ngang trái như mối tình Mỵ Châu &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Lông ngỗng bay trinh trắng cả ngàn năm”&lt;/i&gt;.Ngay từ thời nguyên thủy, tình yêu có lẽ đã song hành với loài người với nhiềucung bậc tình cảm. Đông Tây kim cổ đã có biết bao nhiêu thiên tình sử thật đẹpvà thật buồn. Trong văn học và nghệ thuật, không hiểu sao lâu nay, đề tài tìnhdục luôn là một chủ đề nhạy cảm và tồn tại một “vùng cấm” bao quanh nó. Do ràocản văn hóa của các dân tộc? Do ý thức thẩm mỹ của người thưởng thức? Hay là dongười sáng tác “non tay” nên chưa bộc lộ được hết vẻ đẹp nguyên khôi của nó? Thànhra, vấn đề tình dục vẫn sẽ đi giữa lằn ranh giới - cái đẹp và sự dung tục, giốngnhư &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“đang trôi trên một dòng nước”&lt;/i&gt; ở &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“hai bờ cuộc sống”&lt;/i&gt; (ý thơ Tagore)&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;.&lt;/i&gt; Thơ chị nhiều lần đề cập đến vấn đềnày, dạn dĩ và trực tiếp &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Bờ môi lần tìmbờ môi/vội vàng run rẩy/Trần trụi bản thể một loài sói hoang/ngửi thấy mùi thịtda trong/đói khát điên cuồng”&lt;/i&gt;. Đôi khi, cái bản thể trần trụi ấy cũng khiếncho ta nhói lòng, vì &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“cọng măng đắng mangngâm vào lòng ớt/cay xé thân em”&lt;/i&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Trong tác phẩm &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Người bệnh cuối ngày&lt;/i&gt;, bác sỹ Lê ĐìnhPhương có một ý tưởng là huyền sử về Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ trăm trứng vớicuộc chia con lên rừng xuống biển cũng có thể kiến giải như một cuộc chia ly đầutiên của người Việt. Đấy có phải định mệnh của dân tộc này không, không ai đoánbiết được. Có phải, xuất phát điểm như thế nên nỗi buồn như là một đặc điểm cốhữu của người Việt? Do vậy mà con người trên mảnh đất này thường tìm đến thơ, vốnlà người bạn trăm năm của nỗi buồn, để sẻ chia, để trút bầu tâm sự? Tôi chợt nhớtới nhà thơ Hoàng Cầm, trong một lần trả lời phỏng vấn có nói đại ý rằng tínhcách của người Việt rất gần gũi với thơ, trội hẳn lên so với các dân tộc khác. Đólà cách nghĩ, cách sống tình cảm, đặc biệt là sự gần gũi quấn quít nhau, nhườngcơm sẻ áo trong khi hoạn nạn, tình cảm bạn bè, bà con làng xóm. Thơ là tấmgương của các tính chất ấy. Với những người xa quê, luôn mang trong mình cảmgiác tha hương, điều này càng thể hiện rõ. Những đêm vắng lẻ loi, nhớ những chiếclá rơi bên dòng sông tím, nghe khúc du ca về một bông hoa gạo, ai đó bất giác &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“chân trần trong nắng hạ/Rộp một đời đađoan/Má hồng nhan bạc phận/Hương sắc như mây ngàn”&lt;/i&gt; và ngấm ngầm cảm thấy &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Câu thơ chết đuối dưới chân cầu… Về đâu?”.&lt;/i&gt;Chỉ có &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;loài thi sĩ&lt;/i&gt; mới biết xótthương và đa mang như thế. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Vậy là, chúng ta không/khóthể tìm thấy tin tức gì từ những bài thơ. Cũng đúng là không có một loại hìnhnghệ thuật nào lại khiến cho loài người phải đau đầu nhức óc giống như thơ cả.Nhưng, mặc kệ khen chê của thói đời, một số người vẫn tiếp tục dám sống với đammê, vì rằng họ muốn trở về với &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;tính bảnthiện&lt;/i&gt; của mình mà vô tình hay hữu ý, không ít người đã đánh mất nó. Có phảibởi thế mà có biết bao người đã phải &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“chếtthê thảm”&lt;/i&gt; vì thiếu những điều chỉ tìm thấy trong thơ?&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;b style="mso-bidi-font-weight: normal;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;TrịnhQuốc Dũng&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-8775923235298980826?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/8775923235298980826/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=8775923235298980826' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/8775923235298980826'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/8775923235298980826'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/12/nhien-so-kieu-ruoc-mot-mua-sang.html' title='Nhiên sơ - Kiệu rước một mùa sang'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-y82u5HQzpEI/TvtttQY6q6I/AAAAAAAAAtg/Nuu3RFpVl84/s72-c/nhien+so.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-338897603530559865</id><published>2011-12-18T22:09:00.006+07:00</published><updated>2011-12-19T23:10:51.553+07:00</updated><title type='text'>Mắt đen</title><content type='html'>&lt;div style="color: black; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;i&gt;Bức tường&lt;/i&gt; là một ban nhạc Hard Rock chuyên nghiệp sớm nhất tại Việt Nam, ra đời năm 1995. Ca sỹ chính của ban nhạc là Trần Lập, vốn là cựu sinh viên của Đại học xây dựng. Tôi thích âm nhạc của &lt;i&gt;Bức tường&lt;/i&gt; bởi ca từ giản dị, ý nghĩa và giàu tính hướng thiện. Nó khác xa với những bài hát nhảm nhí, sáo rỗng, lời ca tủn mủn cùng thời. Hôm nay đọc được thông tin về live show mới nhất của nhóm tại Hà Nội, tôi nghe lại một số bài hát mà tôi yêu thích, trong đó có bản ballad này. Và lại nhớ đôi mắt đen thuở nào...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&amp;nbsp; &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;iframe allowfullscreen="" frameborder="0" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/4BmScCC97-w" width="420"&gt;&lt;/iframe&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-338897603530559865?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/338897603530559865/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=338897603530559865' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/338897603530559865'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/338897603530559865'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/12/mat-en.html' title='Mắt đen'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://img.youtube.com/vi/4BmScCC97-w/default.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-4094548458541922740</id><published>2011-12-10T13:50:00.001+07:00</published><updated>2011-12-11T02:47:31.841+07:00</updated><title type='text'>Thử "đọc vị" Nguyễn Trọng Tạo</title><content type='html'>&lt;div style="color: purple; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;Bài này tôi viết đã lâu, khoảng 3 năm trước. Viết xong được đại ca Nguyễn Trọng Tạo khen lắm. Chắc là động viên thằng em lọ mọ ngồi viết bài về mình. Hôm nay tự dưng lại thấy nó trong máy tính. Xin giới thiệu cùng bạn đọc...&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b style="mso-bidi-font-weight: normal;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-eCV7i19vVwc/TuMEIMTcxdI/AAAAAAAAAtE/DJaCzbZT79Q/s1600/Tao2.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="320" src="http://2.bp.blogspot.com/-eCV7i19vVwc/TuMEIMTcxdI/AAAAAAAAAtE/DJaCzbZT79Q/s320/Tao2.jpg" width="233" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Nhà thơ -nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Tôi gặp gỡ nhà thơ - nhạc sỹNguyễn Trọng Tạo lần đầu tiên tại một quán rượu trên đường Bưởi. Cái cảm giáctrước khi được gặp gỡ một người nổi tiếng, một nhà thơ với rất nhiều bài thơ màtôi thuộc nằm lòng từ lâu là sự hồi hộp xen lẫn chút ngại ngùng. Nhưng anh đãxóa tan đi cái cảm giác ban đầu đó của tôi bằng cái bắt tay đầy thiện cảm vàchân thành. Thế là trong suốt cuộc rượu hôm đó, tôi chỉ ngồi rót rượu và ngheanh cùng với nhà thơ Lê Huy Mậu (Vũng Tàu) và nhà văn Nguyễn Đức Thiện (TâyNinh) đàm đạo về chuyện văn chương, nhân tình thế thái. Tôi chú ý đến cái cáchanh châm thuốc lá và nhả khói, điệu đàng và nghệ sỹ lắm. Những vạt khói lơ lửngnhư những nàng Tiên đùa giỡn người hút cũng như người xung quanh một lúc lâu rồimới chịu tan biến vào không gian. Người hút thuốc được như vậy cũng là một taychơi sành sỏi, tôi thầm nghĩ như vậy. Dù không biết hút thuốc và thực sự cũngkhông thích nó, tôi vẫn “phê” cách hút và châm thuốc của Nguyễn Trọng Tạo. Cónhiều nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, thuốc lá không chỉ gây hại cho người hútmà còn ảnh hưởng tới sức khỏe của những người xung quanh (thực tế đã có nhữngquốc gia cấm công dân nước mình hút thuốc lá ở nơi công cộng) nhưng tôi vẫn thấynhững lời cảnh báo kia là vô nghĩa khi người hút thuốc đối diện tôi là nhà thơNguyễn Trọng Tạo.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Tôi đã từng nghĩ rằng mộtngày có 24 tiếng, đời người giỏi lắm thì sống được khoảng 70 đến 80 năm (cá biệtthì trên 100 năm), rất ngắn ngủi. Vì thế, con người ta phải cố gắng hết sức đểlàm việc mới mong đạt được một thành tựu gì đó trước khi giã từ cuộc đời này,hướng tới một lý tưởng “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Phải có danh gì vớinúi sông&lt;/i&gt;” của cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa đã từng tâm niệm. Do vậy khi đượcbiết Nguyễn Trọng Tạo ngất ngưởng uống rượu thâm đêm thâm ngày, có những cuộckéo dài tới 25 tiếng (đến nay chưa ai phá được kỷ lục), mà lại viết được những“&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Tản mạn thời tôi sống”, “Tin thì tinkhông tin thì thôi”, “Đồng dao cho người lớn”, “Gửi người không quen”, “Thế giớikhông còn trăng”, “Làng quan họ quê tôi”, “Khúc hát sông quê”, “Đôi mắt đòngang&lt;/i&gt;”, &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Con dế buồn”, “Xa quê nghetiếng mẹ”,…&lt;/i&gt; rồi vẽ bìa, vẽ tranh, làm báo, làm sách, biên tập thơ,…mê đắmbao nhiêu con tim Việt Nam ở trong và ngoài nước thì thực tình tôi không thểtin được. Uống rượu suốt ngày thế thì lấy đâu ra thời gian để làm những việcđó? Tại sao lại như thế nhỉ? Những câu hỏi này đã theo tôi suốt một thời gian,cho đến khi được đọc những bài bút ký của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, một NgườiHam Chơi đương thời, hiện đang sống ở Huế. Hãy nghe Hoàng Phủ lý giải về cái sựHam Chơi này: “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Trong mỗi người Việt chúngta có một Người Làm (homo fabien), một Người Nghĩ (homo sapien) và có thêm mộtNgười Ham Chơi (homo ludus). Người Ham Chơi này Tây rất thèm nhưng không đạt nổi.Ham Chơi ở đây không phải là lười biếng. Ham Chơi là cách sống đạt đạo của conngười đã nhìn thấy từ lâu bản chất phù hư của thế giới, hiểu rõ rằng những giátrị vật chất có khả năng đến đâu trong cuộc mưu cầu hạnh phúc cho con người.&lt;/i&gt;”&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Thì ra là vậy, câu hỏi đeođẳng tôi bấy lâu đã có lời giải đáp. Có lẽ trong thời gian ở Huế, Nguyễn TrọngTạo đã gặp gỡ với &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Người Ham Chơi&lt;/i&gt;Hoàng Phủ Ngọc Tường, rồi anh tạo một sân Chơi, sân Chơi mà ở đó anh tự trảichiếu hoa cho riêng mình, để trở thành một &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;NgườiHam Chơi&lt;/i&gt; đích thực, và hướng dẫn người khác cũng Ham Chơi giống mình. Tuy vậy,để đạt được cái danh hiệu &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Người Ham Chơi&lt;/i&gt;như anh thì không hề dễ chút nào. Có thể có người sẽ tin hay không tin vào nhữngđiều tôi vừa nói, thế nên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ đi làm một cáiviệc, có lẽ quá sức đối với tôi, một người không phải là dân văn chương. Đó làthử “đọc vị” Nguyễn Trọng Tạo, để xem anh Ham Chơi đến mức nào.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;table cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="float: left; margin-right: 1em; text-align: left;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-yMPWldrt_Ak/TuMELR4SnwI/AAAAAAAAAtM/TxGRbovIv70/s1600/biaNTT.jpg" imageanchor="1" style="clear: left; margin-bottom: 1em; margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="320" src="http://3.bp.blogspot.com/-yMPWldrt_Ak/TuMELR4SnwI/AAAAAAAAAtM/TxGRbovIv70/s320/biaNTT.jpg" width="253" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Tập sơ tuyển thơ mới nhất của NTT&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Đầu tiên là sự Chơi Thơ. Nếunhư thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường là thơ của nỗi buồn (có nhà phê bình gọi ônglà nhà thơ của nỗi buồn) thì thơ của Nguyễn Trọng Tạo là thơ tài hoa, đúng nhưnhận xét của nhà thơ Lê Huy Mậu. Tài hoa ở đây là những bài thơ của anh có ý tứlạ, độc đáo, nhiều khi đi thẳng vào sự vật, hiện tượng cần diễn tả mà vẫn gợicho người đọc nhiều điều liên tưởng về cuộc sống, về con người bình thườngnhưng mang đầy chất triết lý. Anh tiếp cận những vấn đề đó có cảm giác như rấtdễ dàng, như là Chơi vậy. Có thể có người đọc thơ anh xong thì nhăn mặt và nóilẩm bẩm một mình: “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Cái đó mà hắn cũng viếtra được&lt;/i&gt;”. Có gì là khó hiểu đâu, vì những điều anh nói, anh trăn trở trongthơ chính là Sự thật, cái mà nhân loại luôn hướng đến nhưng có lẽ chưa bao giờđược toại nguyện tuyệt đối cả. Vì thế, anh tỏ ra ác cảm, khó chịu với “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;khối người như chiếc bóng…&lt;/i&gt;” hay anh “&lt;i&gt;chợtthương quan không dân chợt thương ngai không chủ/thương những đời người chungthân trong áo mão cân đai...”.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Thật ra, rất khó có thểphân loại thơ của Nguyễn Trọng Tạo thuộc dòng thơ nào trong nền thơ ca ViệtNam, vì ở giai đoạn nào anh cũng có những thành tựu đáng kể. Chẳng hạn như, ởthời kỳ thơ chống Mỹ, anh nổi tiếng với trường ca “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Con đường của những vì sao&lt;/i&gt;” ca ngợi chiến công của mười cô gáithanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc. Đến trước những năm trước Đổi mới, anhgây chấn động thi đàn với bài thơ “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Tản mạnthời tôi sống&lt;/i&gt;” đăng trên báo Văn nghệ. Bài thơ này đã nêu lên được những thựctrạng của thời kỳ bao cấp, bao nhiêu bức xúc, bao nhiêu trăn trở, kìm nén vớinhững câu thơ rất hay, khái quát được cả một thời kỳ:&lt;/span&gt;&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Câu trả lời thật không dễ dàng chi!&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Thơ Nguyễn Trọng Tạo đượcngười đọc nhớ đến nhiều, có lẽ bởi vì thơ anh rất giàu hình ảnh, giàu nhạc tínhvà cũng mới nữa. Tôi trộm nghĩ, người viết được như thế phải có một tâm hồn rấttrẻ, và quan trọng hơn là phải theo kịp được thời đại vốn đầy rẫy những biến động,luôn cuồn cuộn như những dòng sông đổ ra biển lớn. Gần đây (2008), anh xuất bảntập thơ “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Em đàn bà&lt;/i&gt;”, gồm 32 bài thơtình. Hãy tưởng tượng nếu như chưa biết mặt tác giả hoặc giả dụ không có tấm ảnhbìa, khi đọc tập thơ này, tôi chắc quí vị sẽ hình dung ra một chàng trai mớiđôi mươi, tràn trề nhựa sống, viết thơ tình cho người mình yêu. Trong tập thơnày, có nhiều bài hay, thơ sex viết bạo liệt, mạnh mẽ nhưng cũng rất thật, rấtchân thành của những người đang yêu như: &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“ĐàLạt và hoa”, “Tập đếm”, “Ru trắng”, “Anh ném em lên trời”, “Em đàn bà”, “Tìmhoa”, “Ta đã yêu nhau từ kiếp trước”, “Ngày không em”,…&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Đã nhiều lần, tôi thử nhắmmắt và cố hình dung về một Nguyễn Trọng Tạo trong hành trình thơ ca của anh. Từmột cậu bé chăn trâu cắt cỏ trên bờ sông Bùng (Diễn Châu - Nghệ An), bỗng dưng“đọc trộm” thơ của Hàn Mặc Tử rồi mắc “bệnh thi sĩ” và trở thành một chàng lãngtử trong thi ca. Chàng lãng tử này là một người hành hương trong hành trình đitìm Đạo. Trên chặng đường đi đầy chông gai và vực thẳm đó, người hành hương gặpđược những người bạn tri kỷ, những người bạn mà “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Túi đầy thơ tặng túi đầy trăng&lt;/i&gt;”, “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Trái tim bạn giữ cho ta đây/Niềm vui bạn giữ cho ta đây...“. &lt;/i&gt;Chàngcòn gặp những bông Hoa đẹp trong những vườn thơm cỏ lạ, đúng như tâm sự củachàng “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Vẽ tôi thấy Đẹp là mê&lt;/i&gt;”. Vì yêuHoa, yêu cái Đẹp da diết mà chàng rất sợ khi nhìn thấy nó tan biến khỏi cuộc sốngnày, giống như &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;”Mùa xuân thương ai tươiròng muôn sắc/Cả một trời hoa sương nhòa nước mắt..“ &lt;/i&gt;hay &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Hoa đào vương kiếp đào hoa/Thắm tươi mộtthuở phôi pha một ngày“,&lt;/i&gt;...&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Cũng trên chặng đường này,chàng mới nhận thấy cuộc sống thật trống trải, cô đơn và thời gian đối với mộtđời người là ngắn ngủi. Đó là nỗi Cô đơn nguyên thủy, thường trực của con ngườitrong hành trình tiến hóa của mình. Do vậy, Nỗi buồn như là một người bạn sẻchia mà chàng không hề chối bỏ, có khi chàng còn van nài nó “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Buồn ơi Buồn có thương tôi/Đừng làm tôi phảimồ côi Nỗi buồn…”.&lt;/i&gt; Và vì thời gian với chàng là ngắn ngủi, là “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi&lt;/i&gt;” nên rấtnhiều lần, chàng tỏ ý tiếc nuối thời gian, mong cho thời gian trôi chậm lại đểchàng nhanh chóng tìm được Đạo, tìm được cái Đẹp vĩnh hằng. Do vậy mà chàng đãnâng niu, xả thân và bảo vệ hết mình cho cái Đẹp trong hành trình của mình.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Đối với chàng, dù có đicùng trời cuối bể, dù có Ham Chơi rong ruổi cả đời thì hình ảnh Quê hương, hìnhảnh của Cõi Nhớ vẫn ngự trị trong tâm trí. Nương thân ở chốn thị thành nhưngchàng vẫn thèm được nghe một khúc dân ca xứ Nghệ, thèm được ăn một miếng cơm nắmquê nhà, thèm được trở về tắm ở con sông Bùng, được nhìn ngắm một hương cỏ maycủa đồng thơm cỏ mộng, thèm được ngủ trong vòng tay người mẹ yêu kính,.. Hìnhnhư đó là cái day dứt, cái trăn trở muôn thuở của &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;loài thi sĩ&lt;/i&gt; (chữ của Hàn Mặc Tử), những người được Thượng đế traocho sứ mệnh đi tìm Đạo cho loài người? &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Về sự Chơi Nhạc, Nguyễn TrọngTạo sáng tác không nhiều (so với thơ), tuy vậy anh cũng kịp để lại dấu ấn củamình với nền âm nhạc nước nhà. Theo tôi, ba tác phẩm nổi tiếng nhất của anh là“&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Làng quan họ quê tôi&lt;/i&gt;”, “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;” và “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Đôi mắt đò ngang&lt;/i&gt;”. “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Làng quan họ quê tôi&lt;/i&gt;” đã nổi tiếng từ lâu, nay trở thành “tỉnh ca”của tỉnh Bắc Ninh. “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;”,sáng tác năm 2002, thì càng ngày càng nổi tiếng, đến nỗi uống rượu mà khôngngân nga vài câu hát xem chừng mất vui, cuộc rượu đó xem chừng hơi nhạt. Tôi đãnhiều lần thử lý giải xem tại sao bài hát này lại có sức hút ghê gớm đến vậy, từông Bộ trưởng đến những người dân bình thường đều yêu thích nó, trong khi có rấtnhiều bài hát khác viết về dòng sông lại không có được diễm phúc đó.&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Chúng ta đều biết văn hóaViệt Nam là một nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, vì thế mà dòng sông có một tầmquan trọng đặc biệt trong đời sống của con người. Có thể nói không ngoa rằng, tấtcả những phong tục, tập quán, tín ngưỡng cho đến công việc sản xuất, thói quensinh hoạt hàng ngày của người dân Việt đều ít nhiều gắn bó với dòng sông. Dođó, dòng sông quê là hồn vía của người Việt. Nó vừa gần gũi, vừa linh thiêng đốivới mỗi chúng ta. Chính vì vậy, đây là một trong những đề tài xuyên suốt củavăn hóa nghệ thuật Việt Nam, trong đó có âm nhạc. Đã có bao nhiêu nhạc sỹ viếtvề nó với rất nhiều tâm huyết, nhiều kỳ vọng nhưng đã mấy ai “chạm” được vàocái sâu thẳm của dòng sông quê, tức là cái hồn của nó. Nguyễn Trọng Tạo đã làmđược điều này, khi anh đã “bắt” được cái hồn đó trong trường ca “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Thời gian khắc khoải&lt;/i&gt;” của nhà thơ Lê HuyMậu. Đúng như tên gọi, cả trường ca này là một sự day dứt, nhớ thương của ngườilữ thứ khi trở về, đứng trước dòng sông Mẹ. Không day dứt, không nhớ thương saođược khi “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Quá nửa đời phiêu dạt con lại vềúp mặt vào sông quê&lt;/i&gt;”, rồi cùng với dòng sông hồi tưởng về những ngày thơ bé&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ/Vờivợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng”&lt;/i&gt;, sau đó nhớ lại những ngày tháng thanhbình, yên ả và để khắc khoải trước cái vô hạn của dòng sông &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Một dòng xanh trong chảy mãi tới vô cùng…”&lt;/i&gt;với cái hữu hạn của số kiếp con người. Tôi được biết, khi phổ nhạc bài hát này,Nguyễn Trọng Tạo chỉ mất khoảng 30 phút. Nếu không phải anh đã Làm với tư tưởngChơi, sao lại sáng tạo được nhạc phẩm này?&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-PgnsVS7dr8U/TuMEUEuiiaI/AAAAAAAAAtU/LnhL27akoxI/s1600/4.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="291" src="http://4.bp.blogspot.com/-PgnsVS7dr8U/TuMEUEuiiaI/AAAAAAAAAtU/LnhL27akoxI/s400/4.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Nhà văn Nguyễn Quang Lập, tôi, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và anh Hồng Trường (2009)&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Nguyễn Trọng Tạo còn mộtbài hát rất hay nữa, tuy không nổi tiếng bằng hai bài kia, đó là &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Đôi mắt đò ngang”.&lt;/i&gt; Bài hát lấy bối cảnhmột chuyến đò ngang qua dòng sông Lam. Ta cũng thấy dòng sông quê, nhưng sôngquê ở đây chỉ làm nền cho hai nhân vật then chốt: người khách sang sông và côgái xứ Nghệ. Người khách vì “kết” đôi mắt biếc với nụ cười lúng liếng, lẳng lơcủa người đẹp nên đã cất công đi khắp chợ đông, khắp dòng sông Lam chỉ để tìmnàng. Đem lòng yêu người đẹp, người khách đa tình kia đã phải lòng cả đất trời,cả con người vùng sông nước ấy. Đến khi đã say, đã ngấm cái men tình kia rồi,thì chàng ta đâu có xá gì, kể cả đến lúc phải “liều”: &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Chợ đông ai sợ đò đầy/Chìmtrong đôi mắt ấy/Đò đầy, đò đầy anh cứ sang“.&lt;/i&gt; Cái hay, cái chất trữ tình, tự nhiên pha chút ỡm ờ của bài hát này là ởchỗ ấy. Nghe bài hát này nhiều lần, tôi thường hay liên tưởng đến bài thơ viếtvề “đặc sản Huế” (chữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường) của &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Người Ham Chơi&lt;/i&gt; Nguyễn Công Trứ thuở nào.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Thứ ba là sự Chơi Họa. NguyễnTrọng Tạo vẽ rất nhiều tranh và bìa sách, trong đó có những tác phẩm còn đạt cảgiải thưởng nữa. Điều đó không ai phủ nhận. Với anh, Họa cũng là một sự Chơi.Anh làm công việc Vẽ với tâm thế Chơi. Tôi vốn không rành về hội họa, vậy màkhi xem lại các bức ảnh chụp với các văn nghệ sỹ của anh, vẫn thấy ấn tượng nhấtvới bức ảnh khi anh vẽ chân dung nhà thơ Phan Hồng Khánh trong một cuộc rượu. Mộtngười với hàm râu quai nón đang cười sảng khoái còn người kia thì đang “đè ra”để vẽ những nét chân dung cuối cùng. Thấy chưa, vẽ với kiểu cách như vậy thì mớilà thể hiện hết phong cách Chơi, nhưng thử hỏi có mấy ai bắt chước được thế?&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Thứ tư là sự Chơi Rượu. Vềsự Chơi này, ít ai bì kịp Nguyễn Trọng Tạo. Anh có cách uống thầm thì, chậmrãi, vừa uống vừa nói, vừa cười theo kiểu &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Rượungon nhắm với nói cười”&lt;/i&gt;. Cũng nhờ có rượu mà anh để lại câu thơ tuyệt hay vềHuế trong một lần ngất ngưởng với bè bạn: &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“SôngHương hóa rượu ta đến uống/Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say”&lt;/i&gt;. Uống rượu với anhlà một thú vui, một sự Chơi vì anh uống cốt để giao lưu, gặp gỡ bạn bè khắpnơi, để đàm đạo văn chương, thế sự, chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống vớihọ dù rằng cũng có lúc anh phải than: “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Ngàyba cuộc rượu còn gì là thân&lt;/i&gt;”. Nhưng biết làm sao được, vì nếu không có anhthì những cuộc rượu kia chắc kém phần hào hứng lắm. Tôi cũng đoán biết rằng, rượucó một vai trò đặc biệt trong quá trình sáng tạo, đi tìm cảm hứng của anh, vì nếukhông có nó thì bạn bè anh sẽ thiếu đi một Thi Tửu và chúng ta sẽ không được thấymột Nguyễn-Trọng-Tạo như ngày hôm nay.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Nguyễn Trọng Tạo có lần nóivới tôi: “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Thơ anh nhất định những ngườitrí thức sẽ thích&lt;/i&gt;”. Đó không phải là một lời nói huyênh hoang, khoác lác củamột kẻ hợm mình, mà là sự tự tin đáng trọng của một người nghệ sỹ chân chính,người nghệ sỹ luôn thắp sáng tâm hồn mình và đồng loại bằng một trái tim cao cả- trái tim Đan Kô.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Thi sĩ Nguyễn Bính khi bànvề văn nghệ, có nói đại ý như sau: “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Làmvăn nghệ khó lắm vì có nhiều ý, nhiều chữ quá tuyệt mà người khác đã viết trướcmình. Mình chỉ nhại lại thôi"&lt;/i&gt;.Khi viết những dòng cảm nhận này, một kẻ hậu sinh với vốn học thức ít ỏi, nôngcạn như tôi cũng chỉ “nhại lại” những từ ngữ của những bậc tiền nhân để bày tỏsự kính trọng của mình với một người nghệ sỹ tài hoa - Nguyễn Trọng Tạo. Cầuchúc cho anh có một sức khỏe dồi dào để tiếp tục cuộc hành trình với thơ ca Việt,và cũng để uống rượu với bè bạn, những người tri kỷ của anh. Tôi vẫn tin trongsâu thẳm tâm hồn mình, Nguyễn Trọng Tạo, người mà cả đời chỉ biết “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Chia cho em một đời Thơ&lt;/i&gt;” ấy vẫn luôn đauđáu một nỗi niềm, một khát vọng đối với thơ Việt. Đó là một nền Thơ đậm đà bảnsắc dân tộc, nhưng cũng hướng tới cái mới, cái tiến bộ, phù hợp với xu hướngThơ của thế giới, vì người nghệ sỹ đó hiểu rằng: &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa…&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;Hà Nội, 07/12/2008&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;TRỊNH QUỐC DŨNG&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-4094548458541922740?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/4094548458541922740/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=4094548458541922740' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/4094548458541922740'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/4094548458541922740'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/12/thu-oc-vi-nguyen-trong-tao.html' title='Thử &quot;đọc vị&quot; Nguyễn Trọng Tạo'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-eCV7i19vVwc/TuMEIMTcxdI/AAAAAAAAAtE/DJaCzbZT79Q/s72-c/Tao2.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-389924764366911225</id><published>2011-12-04T03:28:00.001+07:00</published><updated>2011-12-04T05:57:51.904+07:00</updated><title type='text'>Về bản chất và ý nghĩa của văn chương</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-U6r9spmxzd8/TtqKe66f5mI/AAAAAAAAAs0/2sZ0KNDZ6_M/s1600/605029.JPG" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="271" src="http://3.bp.blogspot.com/-U6r9spmxzd8/TtqKe66f5mI/AAAAAAAAAs0/2sZ0KNDZ6_M/s400/605029.JPG" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Xuất hiện như một loại hình nghệ thuật sớm nhất của nhân loại, văn chương từ lâu đã mang trong mình nhiệm vụ thật cao cả, phản ánh tâm tư, tình cảm làm giàu có, phong phú thêm tâm hồn của con người, nhờ đó mà hướng họ tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Vai trò to lớn là thế, chức năng cao cả là thế, mà tại sao người ta lại khuyên &lt;i&gt;"Lập thân tối hạ thị văn chương"&lt;/i&gt;. Kể cũng thật lạ. Nhưng ngẫm cho kỹ, thì thấy lời khuyên đó cũng có hàm ý vừa răn đe vừa động viên những ai muốn dấn thân vào cái nghiệp chữ nghĩa đầy vinh quang mà cũng lắm tủi nhục này. Bản chất của văn chương là gì mà lại "ghê gớm" đến vậy. Bài viết sau đây của tác giả Nguyễn Văn Hạnh đăng trên tạp chí Sông Hương sẽ bàn về vấn đề này. Mời các bạn cùng đọc...&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;----------------------------------&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 9pt;"&gt;Vănchương là một hiện tượng không ngừng vận động, không ngừng đổi mới, &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 9pt;"&gt;từ môi trường xã hộivăn hóa này sang môi trường xã hội văn hóa khác, từ nhà văn này sang nhà vănkhác.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: #993300; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 9pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Trong lĩnh vực này,đối với mỗi người sáng tác, thì những gì làm được, cho dù là thành tựu xuất sắcđi nữa, của một thời, một người nào đó, chỉ có thể là một kinh nghiệm, một lờikhuyên, một sự gợi ý, một điểm xuất phát, cũng có thể là một thách thức, thúcgiục, khai phá những con đường mới. Tuy nhiên trong lịch sử lâu dài của nó, vănchương vẫn có một số nét bản chất khá bền vững mà nhà văn và nhà nghiên cứu vănhọc cần ý thức rõ, nhằm khai thác có hiệu quả nhất sức mạnh đặc trưng của vănchương. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc chú trọng đến &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;bản chất tư tưởng&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt; của văn chương đã có từ xa xưa. Có thể nhận thấy điều này trongquan niệm của Khổng Tử và các nhà nho về “văn tải đạo?,?thi dĩ ngôn chí?, trongnhận thức về sự bất phân giữa văn và sử, văn và triết ở thời kỳ đầu sự pháttriển của văn chương. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những người mác xít cũng đặc biệt nhấn mạnh bản chất tư tưởng của văn chương,coi văn chương và nghệ thuật nói chung là một hình thái ý thức xã hội, một côngcụ nhận thức, một “vũ khí tư tưởng”. Tất nhiên cách nhận thức cuộc sống, tácđộng tư tưởng của văn chương nghệ thuật có những nét riêng, có tính đặc thù, sovới các hình thái ý thức xã hội khác, như triết học, đạo đức, tôn giáo…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hướng tiếp cận khác chú trọng &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;bản chất nghệ thuật&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt; của văn chương, mối liên hệ mật thiết giữavăn chương và nghệ thuật, coi văn chương là một loại hình nghệ thuật. Đây làcách xem xét của Aristote trong quyển &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Thi học&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt; (có lúc gọi là &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Nghệ thuật thơ ca&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;). Đặc biệt ở các nhà mỹ học Đức từ cuối thếkỷ XVIII, ở Kant và Hegel, bản chất nghệ thuật của văn chương càng được nhấnmạnh, và họ coi nghiên cứu văn chương, thi học là một bộ phận của mỹ học. Theohướng tiếp cận này, người ta lưu ý nhiều đến mối liên hệ giữa văn chương với âmnhạc, với nghệ thuật tạo hình, với kiến trúc, và gần đây là với nghệ thuật điệnảnh, đề cao giá trị thẩm mỹ của văn chương, xem xét, đánh giá văn chương theoyêu cầu của cái đẹp, sự hài hòa, sự sống. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc chú trọng đến &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;bản chất ngôn ngữ&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt; của văn chương gắn với ngôn ngữ học hiện đại. Roman Jakobsontrong một tiểu luận nổi tiếng &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Ngôn ngữ học và thi học&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;(1960) xem nghiên cứu thi ca, thi học là mộtngành của ngôn ngữ học. Đối tượng của thi học, theo ông, trước tiên là phải trảlời câu hỏi: cái gì làm cho &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;một thông điệp bằng lời nói biến thành một công trình nghệthuật? Và ông cho rằng có thể tìm lời giải đáp trong chức năng thi ca của ngônngữ.&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dù đặt trọng tâm chú ý vào đâu, dù xuất phát từ điểm nhìn nào, từ tư &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;tưởng, nghệ thuật hayngôn ngữ, thì trong thực tiễn sáng tác hay nghiên cứu văn chương hiện nay, cảba mặt bản chất của văn chương là tư tưởng, nghệ thuật và ngôn ngữ cần đượcquan tâm theo cách này hay cách khác, ở mức độ này hay mức độ khác. Chúng takhông ngạc nhiên là những nhà văn lớn xưa nay là những nhà tư tưởng lớn, đồngthời là những nghệ sĩ tài ba và là những bậc thầy về ngôn ngữ. Ngay cả nhữngngười cầm bút bình thường, muốn phát huy được sức mạnh riêng, sức mạnh tổng hợpcủa văn chương, cũng phải biết khai thác cả ba mặt tư tưởng, nghệ thuật và ngônngữ của nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Nhưng trong tình hìnhhiện nay, một phần do ảnh hưởng tiêu cực của các &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;khuynh hướng hình thức chủ nghĩa trong văn họcphương Tây hiện đại, một phần do quan niệm và cách làm của chúng ta đối với vấnđề tư tưởng trong văn học còn thô thiển, áp đặt, khiến người ta có thành kiến,thậm chí “dị ứng” với tư tưởng. Việc coi nhẹ tư tưởng, thành kiến đối với tưtưởng sẽ tước đi sức mạnh quan trọng nhất của văn chương so với các loại hìnhnghệ thuật khác, khuyến khích việc chạy theo hình thức, kỹ thuật, chiều nịnhthị hiếu tầm thường của công chúng, sớm muộn sẽ dẫn văn chương đến chỗ cằn cỗi,bế tắc, không có &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;nghĩa gì đáng kể đốivới xã hội, nhân sinh.&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-UMq_5OcreEg/TtqKxyK9ZEI/AAAAAAAAAs8/P4jM5c8MmdA/s1600/041_l.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="300" src="http://2.bp.blogspot.com/-UMq_5OcreEg/TtqKxyK9ZEI/AAAAAAAAAs8/P4jM5c8MmdA/s400/041_l.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Tất nhiên tư tưởng ởđây phải được quan niệm một cách đúng đắn và rộng &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;rãi, bao quát khôngchỉ vấn đề chính nghĩa và phi nghĩa, thiện và ác ở đời này, mà toàn bộ nhậnthức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ của con người đối với cuộc sống, trong quanhệ với tự nhiên, xã hội và với chính bản thân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Có thể nói, trong sựvận động của nó, văn chương đích thực dù biến hóa &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;muôn hình nghìn vẻ vẫnluôn đứng trên một cái thế chân kiềng tư tưởng, nghệ thuật, ngôn ngữ, nó là mộthợp chất tư tưởng - nghệ thuật - ngôn ngữ, và đòi hỏi người sáng tác cũng nhưngười nghiên cứu có cách khai thác có hiệu quả nhất các mặt bản chất đó, tùytheo yêu cầu của thời đại và tài năng, sở trường của mỗi người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Đứng trước tình trạngbạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội lan tràn, sự suy thoái về &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;đạo đức và sự vô cảmcủa con người ngày càng đáng lo ngại, tự nhiên tôi nghĩ đến văn chương, nghĩđến tác dụng “cứu rỗi” của văn chương, mặc dù tôi cũng như không ít người đãnhiều lần nhận chân khá rõ cái khó khăn của văn hóa đọc và sự bất lực của vănchương trong thế giới xô bồ và đầy hiểm họa hiện tại. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đương nhiên văn chương cũng như nghệ thuật không thể thay thế cho kinh tế,chính trị và những lĩnh vực quan trọng khác của đời sống xã hội. Nhưng, ngượclại, cũng không một lĩnh vực nào có thể thay thế được văn chương trong việcgiúp con người hiểu cuộc sống và hiểu chính mình, sống có tình thương, có đạolý, có văn hóa, vượt qua cái tầm thường, phàm tục, giả dối, để thăng hoa, đểước mơ, vươn đến chân, thiện, mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Qua văn chương, conngười cảm nhận và ý thức được cái đẹp, sự hài hòa, &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;sự sống, tiếp cận vàtự nâng mình lên với những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, sâu sắc, tinh tế, đượcbồi dưỡng về ngôn ngữ, thứ ngôn ngữ phong phú, sinh động, giàu sức biểu cảmnhất của dân tộc. Đối với cộng đồng cư dân văn hóa nào cũng vậy, văn chương cómột ý nghĩa cực kỳ to lớn là vì thế. Đối với nước ta là “một nước thơ”, như NgôThời Nhậm từng khẳng định, thì chân lý này càng &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;hiển nhiên. Rõ ràng văn chương, mà trước hết là thơ, là phần cógiá trị bậc nhất &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;trong di sản tinh thần của dân tộc ta. Người Việt không chỉ hômqua mà cả hôm nay nữa đã gửi vào văn chương cả kinh nghiệm sống, tình yêu, khátvọng, cả đạo đức, triết học, tín ngưỡng của mình. Cho nên, muốn biết ông chachúng ta đã sống như thế nào, đã nhắn gửi những gì cho các thế hệ mai sau, cũngnhư muốn biết con người Việt Nam trong thời đại này đang buồn vui, lo lắng, đaukhổ, hi vọng ra sao, thì rất cần đọc thơ văn Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Tham gia vào hoạt độngvăn chương, cho dù là sáng tác hay thưởng thức, &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;người ta đều được “thanh lọc”, ít nhiều sẽ trởnên tốt hơn, nhân ái hơn. Trong thế giới ồn ả, xô bồ hiện nay, khi con ngườiluôn bị lôi ra bên ngoài, bị cuốn vào đám đông và bị nhu cầu vật chất cám dỗ dữdội, thì thi ca, văn chương lại càng cần thiết. Tiếp xúc với văn thơ, con ngườicó điều kiện giao lưu với những giá trị tinh thần, suy ngẫm, chiêm nghiệm vềnhững vấn đề nhân bản, nhân văn, không phải giữa đám đông, hay trong lúc bậnrộn bởi bao điều rắc rối, phiền toái ở đời này, mà tương đối thanh thản, ở tưthế một mình, chỉ riêng mình trò chuyện với tác giả, riêng mình đối diện vớilương tri, với cái phần người nhất của chính mình. Những khoảnh khắc đó thậtđáng quí cho con người trong thời buổi này để bảo tồn và phát huy phẩm giá vànăng lực làm người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Xã hội luôn chờ đợinhững tác phẩm văn chương hay. Làm thế nào để có &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;tác phẩm hay? Điều này tùy thuộc chủ yếu vàotài năng và bản lĩnh của người cầm bút. Nhưng không khí xã hội chung, công táctổ chức, quản lý sự nghiệp văn học nghệ thuật cũng có vai trò rất lớn. Nhà toánhọc Poincare người Pháp &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;có nói: “&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Tự do đối với khoa họccũng giống như không khí đối với động vật”. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Đây cũng là một nguyên lý đối với sáng tạo văn chương nghệthuật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc dạy và học văn ở nhà trường là một việc đáng bỏ công sức để làm &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;cho tốt hơn. Ngànhgiáo dục được giao trách nhiệm mà cũng là đặc quyền rất lớn là tổ chức việc dạyvăn và học văn cho thế hệ trẻ từ mẫu giáo cho đến hết bậc trung học phổ thông,và một chừng mực nào đó ngay cả ở đại học. Rõ ràng chúng ta chưa khai thác tốtthuận lợi và ưu thế này để bồi dưỡng cho lớp trẻ, những công dân tương lai,những phẩm chất và năng lực mà văn chương thực hiện có kết quả nhất. Nhằm mụcđích này, nên cấu tạo lại chương trình văn theo hướng dành một vị trí xứng đánghơn cho văn học dân gian và cổ điển, chọn để dạy những tác phẩm văn chương thậtsự có giá trị, cả trong nước và nước ngoài, chứ không phải để đáp ứng những chủđiểm hay yêu cầu định trước nào đó. Tác phẩm văn chương có giá trị luôn dồi dàokhả năng đáp ứng những nhu cầu tư tưởng và nghệ thuật cơ bản và lâu dài, hàmchứa cả sự sâu sắc và phong phú, gợi mở nhiều liên tưởng, liên hệ. Có thể nóivăn chương là một hiện tượng đồng chất. Một câu thơ, một đoạn văn giống như mộtgiọt nước, một giọt sương mang hình bóng của biển cả, của bầu trời. Cần dànhmột khoảng không rộng lớn cho hiểu biết, sở đắc, tâm huyết của người thầy giáo,cho hứng thú, trí tưởng tượng của học sinh. Không có gì trái với bản chất củavăn chương hơn là sư hời hợt, máy móc, áp đặt. Văn chương là chuyện tâm hồn,chuyện cuộc sống. Cho nên môn văn ở phổ thông phải quan tâm trước hết đến tưtưởng, tình cảm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Có lúc người ta đãthành kiến, thậm chí phê phán nặng nề tác dụng giải trí, &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;“mua vui” của vănchương. Nhưng văn chương chân chính xưa nay luôn nhằm một mục tiêu kép: có íchvà vui, bồi dưỡng và hấp dẫn, giúp cho cuộc sống đẹp &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;hơn, tốt hơn, có ý nghĩa hơn. Hoàn thành kiệttác &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Truyện Kiều,&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Nguyễn Du coi đó là “&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Lời quê góp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh”&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;, nhưng “Đại Việt thiên thu tuyệt diệu từ” nàyđã góp phần sâu thẳm biết bao trong việc&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;tạo dựng nên khuôn mặttinh thần của dân tộc, và bao nhiêu thế hệ người Việt &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;đã và sẽ còn khóc,cười trên những trang viết của nhà thơ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Cứ tưởng như là tròchơi, một cái gì rất phù phiếm, phù du, nhưng trong văn &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;chương nước ta xưa nayvẫn âm ỉ ngọn lửa thiêng lẽ sống mà “những kẻ tư văn quê đất Việt” (Nguyễn Trãi)vượt qua bao trắc trở, trầm luân, oan khiên đã ấp ủ và truyền lưu âm thầm vàbền bỉ qua bao đời, mong con người nhìn vào đấy biết mình là ai và nên sống nhưthế nào cho phải.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;Văn chương luôn luôntrẻ trung, mới mẻ. Ở các nhà văn trẻ, sức trẻ và niềm &lt;/span&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;khao khát cái mới nhưđược nhân đôi. Sáng tạo văn chương là một chọn lựa tự nguyện đầy hứng thú, saymê, nhưng cũng là một nghề đòi hỏi nhiều công phu, lao tâm, khổ tứ, nghề “phuchữ”, nói theo cách của nhà thơ Lê Đạt, mà văn chương đâu phải chỉ là chữ mà làchữ nghĩa, lo việc chữ đã khó mà lo việc chữ nghĩa càng khó hơn. Hay nói nhưNam Cao, đây là nghề “chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơinhững nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Bàn về nghề văn,Thạch Lam nhấn mạnh: “Làm thợ, đi buôn còn phải khó nhọc, còn phải học nghề,tại làm sao viết văn lại không phải học, không phải cố”. Thừa nhận vai trò quantrọng của cảm hứng trong nghề văn, Thạch Lam luôn nhắc lại ý kiến củaDostoevski rằng “chỉ có những cảm hứng là đến đột ngột, hẳn một lúc, còn ngoàira là công việc nhọc nhằn cả”. Nói đến thành công, giá trị trong nghề văn,Thạch Lam quả quyết: “Chỉ những nhà văn không chạy theo thời, không nghe theotiếng gọi của sự háo hức, hám danh, sự chiều lòng công chúng, mà biết đi sâuvào tâm hồn mình, phát hiện ra những tính tình, cảm giác thành thực, tức là tìmthấy tâm hồn mọi người qua tâm hồn chính mình, mới có thể tạo được những giátrị bền vững, mới có thể đi đến chỗ bất tử mà không tự biết”. Quả đúng vănchương là vậy, nghề văn là vậy. &lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10pt;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: #993300; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 9pt;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: #993300; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 9pt;"&gt;NGUYỄNVĂN HẠNH&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="color: #231f20; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 9pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-389924764366911225?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/389924764366911225/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=389924764366911225' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/389924764366911225'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/389924764366911225'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/12/ve-ban-chat-va-y-nghia-cua-van-chuong.html' title='Về bản chất và ý nghĩa của văn chương'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-U6r9spmxzd8/TtqKe66f5mI/AAAAAAAAAs0/2sZ0KNDZ6_M/s72-c/605029.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-4217489325607573573</id><published>2011-11-25T17:09:00.001+07:00</published><updated>2011-11-25T17:23:57.338+07:00</updated><title type='text'>Adagio For Strings</title><content type='html'>&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-TAbJ-j7d0-w/Ts9qMk25TaI/AAAAAAAAAsU/zdbV5s9tgrM/s1600/Samuel_Barber.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="320" src="http://4.bp.blogspot.com/-TAbJ-j7d0-w/Ts9qMk25TaI/AAAAAAAAAsU/zdbV5s9tgrM/s320/Samuel_Barber.jpg" width="229" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Samuel Barber (1910 - 1981)&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: purple;"&gt;Sau một ngày làm việc mệt nhoài, toan định tắt máy tính leo lên giường ngủ, bất chợt một âm thanh kỳ lạ vang vọng tới đôi tai uể oải của gã. Một thanh âm của thời xa xưa lắm rồi, cái thời mà chẳng ai còn biết tới nữa, ngoại trừ qua những hình họa, tranh vẽ được in dưới lớp giấy đã ngả màu vàng úa của thời gian. Vậy mà hôm nay gã lại nghe được nó. Nó mỏng manh như sợi tơ. Trong vắt như giọt nước. Và se sắt một nỗi sầu như chiếc lá rơi rụng từ vạn kiếp…&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;iframe allowfullscreen="" frameborder="0" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/ZLHuFq-g2NQ" width="560"&gt;&lt;/iframe&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-4217489325607573573?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/4217489325607573573/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=4217489325607573573' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/4217489325607573573'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/4217489325607573573'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/11/adagio-for-strings.html' title='Adagio For Strings'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-TAbJ-j7d0-w/Ts9qMk25TaI/AAAAAAAAAsU/zdbV5s9tgrM/s72-c/Samuel_Barber.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-8849257256353422699</id><published>2011-11-19T05:47:00.001+07:00</published><updated>2011-11-19T15:02:15.169+07:00</updated><title type='text'>Vài kỷ niệm về ngày nhà giáo</title><content type='html'>&lt;br /&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-HYuCKwCbWeE/Tsbh0Yr_rUI/AAAAAAAAAsM/mXbhqM537BI/s1600/203408.JPG" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="371" src="http://4.bp.blogspot.com/-HYuCKwCbWeE/Tsbh0Yr_rUI/AAAAAAAAAsM/mXbhqM537BI/s400/203408.JPG" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;“Đòai chở khách sang sông&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Tìnhcòn trở lại hay không hỡi người&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Đòtôi tình của một đời&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Bếnthương neo đậu tình người đi xa”&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Không biết tự bao giờ,hình ảnh những người thầy giáo, cô giáo lại được ví với người lái đò thầm lặng.Điều này có lẽ xuất phát từ đặc thù của nghề giáo. Đó là truyền thụ kiến thứccho những thế hệ học sinh, để rồi mai này họ hòa mình với dòng đời nhiều vầnxoay của tạo hóa. Những học trò thân yêu đó cứ thế, hết lớp này đến lớp khác,năm này qua năm khác, bao gương mặt cũ qua đi, bao gương mặt mới lại đến… Giốngnhư những khách qua đò. Như những đợt sóng của bao la biển cả. Còn người lái đòthì vẫn cặm cụi bên bến sông thanh bình, với công việc thường ngày của mình, đểlàm “nhịp cầu nối những bờ vui” cho mọi người.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Tuổi học trò của tôi giốngnhư bao nhiêu người khác. Học hành tạm được, không kém quá và học đều các môn. Cũngnghịch ngợm, có niềm vui nỗi buồn, bị hạ bậc hạnh kiểm, rất nhút nhát và hay bịbạn bè bắt nạt, trêu chọc. Nhiều khi nghĩ lại không hiểu sao hồi đó tôi lạinhút nhát đến thế. Hơi một tí là mặt mũi đỏ bừng như quả cà chua chín. Lúc đóthì chả còn làm được cái gì cho nên hồn, nói năng ấp a ấp úng, thật không giốngvới cái tên chút nào cả. Ấy thế mà không hiểu vì sao có lần tôi cũng cả gan đứngtrước đám bạn bè trong lớp để hát bài “Bướm trắng”, phổ từ bài thơ “Cô hàngxóm” của Nguyễn Bính. Ấn tượng về giáo viên những năm tiểu học và trung họctrong tôi không nhiều, cũng phần vì tôi nhút nhát quá. Duy chỉ hai người là đểlại trong ký ức thơ dại của tôi hồi đó nhiều cảm xúc nhất: cô D. và thầy T. ThầyT. dạy sinh và dạy rất hay. Thầy biết cách truyền đạt cho học sinh hiểu bài bằngnhững ví dụ thú vị và thông minh. Tôi nể phục thầy thêm ở chỗ là thầy đã truyềnđược cảm hứng về môn học cho học sinh, dù cho môn học của thầy không phải làmôn để thi chuyển cấp nên chúng tôi hay học theo kiểu đối phó. Sau này khi đứngtrên bục giảng bài cho những sinh viên đại học, tôi mới thấy cái việc truyền đượccảm hứng học tập cho họ thật là khó biết bao. Phần vì thầy còn trẻ mà trò còn dạinên đôi khi cũng khó mà trao đổi và hiểu mọi sự được hết… Về sau, tôi được biếtthầy T. đã làm việc gì đó phi pháp và vướng vào vòng lao lý rồi nghe nói thầychuyển nghề khác. Kể từ đó tôi không còn có tin tức gì của thầy nữa. &amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Cô D. dạy toán, đồng thờilà giáo viên chủ nhiệm lớp tôi. Ngay từ đầu, cô đã biết tôi là em của anh traitôi, từng là học sinh giỏi nhất của cô. Chao ôi, khi ấy tôi mới thấy làm em mộtngười nổi tiếng khổ như thế nào. Lúc đó tôi học thuộc loại trung bình, ngườithì gầy gò hom hem chả có gì nổi bật, cũng không có năng khiếu gì hay ho. Côthì cứ tưởng là em của một người học giỏi nhất, chắc là học hành cũng phải thuộcloại “cao thủ võ lâm”, không nhất thì nhì. Nào ngờ lại gặp ngay một kẻ “văn dốtvõ dát” và bất tài vô dụng. Thôi chả kể nữa đâu, xấu hổ lắm…Hi hi. Cô D. giảngdạy nhiệt tình và chu đáo với học sinh, đặc biệt là cô chăm chút rất cẩn thậngiáo án của mình mỗi khi lên lớp. Cô có một quyển vở to đùng mà lúc nào cũngmang kè kè bên mình (chắc là sợ mấy đứa học trò chúng tôi nghịch ngợm làm hỏngnó đấy mà). Khi giảng bài, có những công thức nào khó nhớ là cô tra lại quyển vởđó cho chắc ăn, rồi sau đó mới viết lên bảng. Thú thực tôi không thích học môncủa cô lắm, không phải vì cô dạy không hay mà tôi chẳng thấy mấy công thức toáncó gì thú vị cả. Vừa khô khan vừa khó nhớ, trong khi tâm trí của đứa học trò nhỏlà tôi đang còn mơ màng tới những trò chơi và hàng quán sau giờ tan lớp. Thànhra, mỗi lần cô kiểm tra bài cũ là tim tôi rụng rời, chỉ sợ cô gọi đến tên mình.Vậy mà rất lạ là dù không được điểm cao môn toán trong thời gian này nhưng tôikhông bị mất gốc nhiều lắm về những kiến thức cơ bản, đủ để vượt qua kỳ thichuyển cấp một cách ngon lành. Có lẽ vì thế mà đến khi vào cấp 3, toán là mộttrong những môn tôi học tốt nhất. Nổ một phát cho sướng. He he. &amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Tôi vẫn còn nhớ hoàihình ảnh của cô trên chiếc xe đạp và hàng ngày đi từ bên kia cầu Long Biên sangbên này để giảng bài cho mấy đứa học trò nghịch ngợm như lũ chúng tôi, bất kể trờimưa hay nắng. Cái dáng “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;lặn lội thân cò”&lt;/i&gt;ấy dễ khiến cho người ta đắng lòng. Cô D. là một người tiêu biểu cho hình ảnhngười giáo viên tận tụy hết lòng với học sinh. Cô thường dạy thêm cho mấy đứa họcsinh cá biệt và học kém (rất may là không có tôi) cho tới khi tụi nó hiểu đượcbài mới thôi. Không bao giờ cô lấy tiền thù lao cả. Viết đến đây, tôi sực nhớ tớimấy cảnh thầy cô giáo đánh đập học sinh, bắt học sinh liếm bàn ghế rồi học sinhhành hung thầy cô, nghĩ mà rầu lòng về mối quan hệ giữa thầy và trò bây giờ. Cốnhiên, những trường hợp mà báo chí đã nêu (thời nào cũng có, chỉ khác nhau mứcđộ của sự việc) không bao giờ là đại diện cho cả một tầng lớp những nhà giáođang hàng ngày đứng trên bục giảng cả, nhưng đối với những người trong nghề, mỗimột lần đọc những tin tức kiểu đó trên báo và chứng kiến những lời phàn nàn, chửibới, nhiếc móc của người dân, luôn mang tới cho họ sự xót xa và nhức nhối.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Đối với cô, mấy đứa họctrò chúng tôi luôn coi cô như người mẹ thứ hai của mình. Năm nào mấy đứa chúngtôi cũng qua thăm cô. Tiếp chúng tôi, cô luôn nở nụ cười rất tươi nhưng tôi thìđã nhìn ra những sợi tóc bạc và những nếp nhăn hằn in trên vầng trán và khóe mắtvì lo âu công việc, vì gia đình và con cái của cô. Bao nhiêu năm rồi mà vợ chồngcô và hai đứa con vẫn ở căn nhà nhỏ vốn là trụ sở một cơ quan của bộ côngthương. Những lần đến thăm cô, tôi cứ hay trêu đùa tếu táo về những khó khăntrong công việc (mà tôi thừa biết) cốt để cho cô vui hơn, đặng xóa đi những nétưu tư và bức xúc của cô với tình hình giáo dục nước nhà. Những năm gần đây, haicon cô cũng trưởng thành nên cuộc sống của cô chắc đỡ vất vả hơn. Con gái cô giờ cũng đã tốt nghiệp đại học. Những lần sang thăm cô, tôi thường thủ thỉ:“&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Cô ơi, cô gả em T. cho em nhé”.&lt;/i&gt; Côchỉ cười và nói: “&lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;Mày tán nó đi. Gả chomày đấy”.&lt;/i&gt; Nói thì nói vậy thôi, chứ ai có thể đùa với chuyện trăm năm được,cô nhỉ? Kể từ ngày đi học xa nhà, tôi không có dịp đến thăm cô nữa vào ngày 20tháng 11. Ở nơi xa, tôi vẫn thầm cầu chúc cho cô và gia đình mạnh khỏe và mọisự bình an.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Ngạn ngữ phương Tây cócâu: &lt;i style="mso-bidi-font-style: normal;"&gt;“Phải đi qua một quả núi, ta mới thấyhết được độ cao của nó”&lt;/i&gt;. Có khổ đau mới thấm thía giá trị của hạnh phúc, cóxa xôi mới thấy nhớ nhung, có đắng cay mới biết quí trọng ngọt ngào, đó là nhữngtriết lý sống mà phải trải qua thăng trầm dâu bể của cuộc đời, con người ta mớicó thể thấu cảm được. Quả thật, ngẫm lại mình, những điều gieo lại trong tâm hồntôi không phải là những công thức toán lý khô khan mà lại là những câu chuyện kể,áng văn hay, câu thơ đẹp và những bài học nghĩa nhân ở đời. Phần lớn nó xuất hiệntrong những cuốn sách mà tôi được đọc khi đó, dù còn rất ít ỏi. Chính chúng đãdạy cho tôi biết thương nguồn nhớ cội, biết phân biệt phải trái và góp phần nuôidưỡng tuổi thơ tôi cho đến khi trưởng thành. &amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Những lần gặm nhấm mànđêm hoài cảm bên ngọn đèn lặng thầm hiu hắt, tôi chợt bâng khuâng nhớ lại nhữngngày đến lớp, được gần gũi đùa vui với bạn bè, hít hà mùi khói thơm lừng từ bátbún sườn nóng hổi giữa cái lạnh mùa đông trong những hàng quà sáng rồi trởthành những tên chúa Chổm, được nhấm nháp vị đăng đắng ngọt ngào của những cốcbia hơi giữa trưa hè oi bức hay chỉ một chút khe khẽ xốn xang trước một bóng áodài vô tình đi qua trong chiều tím. Tôi thấy lại trong những tháng ngày vô tư hồnnhiên đó vị dư ba dạt dào nồng men của một thuở trinh nguyên học trò mà có lẽkhông bao giờ tôi có thể tìm lại được nữa.&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Thực ra, bản thân tôikhông hề chủ ý chọn nghề dạy học, vì tôi không có mục đích từ đầu đến với nghềnhư một kế hoạch dài hạn. Vậy mà Trời run rủi thế nào lại dẫn tôi tới cái nghiệpnày. Đúng hơn là ông Trời đã thương cái thân tôi. Nghĩ lại tôi thấy mình thậtmay mắn được làm nghề dạy học, vì nó đã cho tôi rất nhiều thứ. Tôi được tiếpxúc với những thầy cô và đồng nghiệp đáng kính, được gặp gỡ những học trò dễthương và giàu nhiệt huyết, được biết thêm những miền đất và văn hóa mới thôngqua những chuyến đi, từ đó biết mình còn kém cỏi và nông cạn để mà tự phải cố gắngvươn lên. Tôi học thêm nhiều điều mới mẻ từ công việc nghiên cứu vốn giàu tínhkhai phá mà không phải nghề nào cũng có được. Đó là niềm vui tuyệt đối mà chínhnghề giáo đã mang lại cho tôi. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Ngày nhà giáo là mộtnét văn hóa giàu bản sắc và ứng xử rất đẹp của dân tộc ta. Nó xuất phát từ truyềnthống tôn sư trọng đạo, khát khao hiểu biết của người dân Việt và được thể hiệnthông qua một ngày mà toàn xã hội tôn vinh những nhà giáo (một ngày khác nữalà mồng 3 Tết âm lịch). Tôi đã từng kể về ngày này với những đồng nghiệp và mộtsố người bạn ở Đức, họ đều tỏ ra ngạc nhiên và rất thích thú với truyền thống nàyở Việt Nam. Nước Đức cũng là một đất nước rất coi trọng tri thức và văn hóa.Nói như thế để thấy rằng, tri thức luôn luôn là trụ cột phát triển của bất cứ nướcnào trên thế giới, kể cả những quốc gia tiên tiến nhất. Vinh danh những ngườigiáo viên cũng là coi trọng tri thức, vì họ là những người dấn thân cho sự nghiệpkhai sáng như tinh thần của nhà ái quốc vĩ đại Phan Châu Trinh cách đây hơn mộtthế kỷ. Nhân dịp ngày nhà giáo Việt Nam, xin kính chúc các thầy cô giáo trên khắpmọi miền Tổ quốc sức khỏe dồi dào, công việc hanh thông và luôn giữ được ngọn lửanhiệt tình với khoa học và giáo dục nước nhà. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b style="mso-bidi-font-weight: normal;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;TrịnhQuốc Dũng&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-8849257256353422699?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/8849257256353422699/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=8849257256353422699' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/8849257256353422699'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/8849257256353422699'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/11/vai-ky-niem-ve-ngay-nha-giao.html' title='Vài kỷ niệm về ngày nhà giáo'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-HYuCKwCbWeE/Tsbh0Yr_rUI/AAAAAAAAAsM/mXbhqM537BI/s72-c/203408.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-605507501273863120</id><published>2011-11-11T17:10:00.001+07:00</published><updated>2011-11-15T03:24:45.231+07:00</updated><title type='text'>Bến xuân</title><content type='html'>&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;img border="0" height="400" src="http://4.bp.blogspot.com/-AiOU3Mkalpw/Trz0lPJca7I/AAAAAAAAAsE/Hor69wKQoFw/s400/ben+xuan.bmp" style="margin-left: auto; margin-right: auto;" width="331" /&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Bài hát Bến xuân. Lời và nhạc: Văn Cao - Phạm Duy&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: justify;"&gt;Văn Cao là một trong những nghệ sỹ tài hoa nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông là tác giả của &lt;i&gt;Tiến quân ca&lt;/i&gt;, quốc ca của nước Việt. Những ca khúc khác của ông như: &lt;i&gt;Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ&lt;/i&gt; là những bản tình ca đi cùng năm tháng. &lt;i&gt;Trường ca sông Lô&lt;/i&gt; là một bản hùng ca, được xếp vào hàng kinh điển trong nền âm nhạc Việt Nam. Ông cũng là một nhà thơ với những câu thơ thật tài hoa “&lt;i&gt;Từ trời xanh/ rơi/vài giọt Tháp Chàm&lt;/i&gt;” và thật đắng đót “&lt;i&gt;có lúc/ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt/có lúc/nước mắt không thể chảy ra ngoài được&lt;/i&gt;”. Ông còn là một họa sỹ đã từng có triển lãm tranh sơn dầu từ rất sớm tại Hà Nội.&lt;br /&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Bến xuân&lt;/i&gt; là một ca khúc vượt thời gian của ông. Dựa trên chuyện tình cảm có thật với ca sỹ Hoàng Oanh, đã là cảm xúc để ông viết lên bản tình ca này. Người nhạc sỹ từng tâm sự: “&lt;i&gt;Tôi yêu thầm người con gái ấy mà không dám nói ra. Nhưng người con gái ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Nên mới có câu: Em đến tôi một lần&lt;/i&gt;”. &lt;i&gt;Bến xuân&lt;/i&gt; có cái nét buồn man mác và chân phương. Em chỉ đến với tôi một lần và không bao giờ quay lại, để lại trong tôi bao niềm luyến tiếc: “&lt;i&gt;Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác, em vắng tôi một chiều, bến nước tiêu điều còn hằn in nét dáng yêu&lt;/i&gt;”. Không mơ mộng như Thiên Thai, không tê tái như Trương Chi, &lt;i&gt;Bến xuân&lt;/i&gt; là nỗi sầu của mối tình u ẩn và kiều mị. Đó là bản tình ca đẹp như một nỗi buồn, nỗi mong manh của cuộc đời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe bài hát này nhiều lần với nhiều ca sỹ thể hiện, tôi vẫn ấn tượng nhất với giọng ca của ca sỹ Cao Minh. Qua phần trình diễn của anh, bài hát một lần nữa được chắp cánh bay cao và rung động đặc biệt với người thưởng thức. Giọng hát Cao Minh sáng, trong và rất tình cảm ở ca khúc này, đặc biệt ở những nốt nhạc thể hiện tâm trạng đợi chờ, đau khổ của cuộc tình vô vọng. Đã hơn sáu mươi năm kể từ khi ra đời, vậy mà bài hát này vẫn gây xúc động với tôi mỗi khi nghe lại… &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;iframe allowfullscreen="" frameborder="0" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/R0AzKTuU-qc" width="420"&gt;&lt;/iframe&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-605507501273863120?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/605507501273863120/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=605507501273863120' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/605507501273863120'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/605507501273863120'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/11/ben-xuan.html' title='Bến xuân'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-AiOU3Mkalpw/Trz0lPJca7I/AAAAAAAAAsE/Hor69wKQoFw/s72-c/ben+xuan.bmp' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-6541784970385346272</id><published>2011-11-04T16:46:00.000+07:00</published><updated>2011-11-04T15:07:38.630+07:00</updated><title type='text'>"Khúc hát sông quê" - Nhịp đập của những trái tim tha hương</title><content type='html'>&lt;table cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="float: left; margin-right: 1em; text-align: left;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://bp2.blogger.com/_00_g1Eiau_0/R9O8Py7K7qI/AAAAAAAAALU/eMXL3fHsoW4/s1600-h/0907Po01L.jpg" style="clear: left; margin-bottom: 1em; margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img alt="" border="0" height="211" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5175687376332844706" src="http://bp2.blogger.com/_00_g1Eiau_0/R9O8Py7K7qI/AAAAAAAAALU/eMXL3fHsoW4/s320/0907Po01L.jpg" style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center;" width="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://bp2.blogger.com/_00_g1Eiau_0/R9O8Dy7K7pI/AAAAAAAAALM/263uGzixKEg/s1600-h/lehuymau.jpg" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img alt="" border="0" height="200" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5175687170174414482" src="http://bp2.blogger.com/_00_g1Eiau_0/R9O8Dy7K7pI/AAAAAAAAALM/263uGzixKEg/s200/lehuymau.jpg" style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center;" width="146" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;Nhà thơ Lê Huy Mậu&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Người làm bài hát bao giờ cũng mong ước có nhiều người hát. Về điểm này tôi thấy gần đây ca khúc “ &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;” của nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một minh chứng . &lt;i&gt;Quá nửa đời phiêu dạt / con lại về úp mặt vào sông quê / ơi con sông dạt dào như lòng mẹ &lt;/i&gt;…Âm nhạc đã dắt lời thơ đi vào lòng người và ở lại đó, lay động xao xuyến . Nhất là đối với người tha hương lâu ngày. Mà thời buổi hiện đại này ai mà chẳng là người tha hương ? Ai mà chẳng có tuổi thơ ngóng mẹ chợ về với xu bánh đa vừng nơi bến sông thân thuộc. Có lẽ vì thế mà ai cũng tìm thấy mình trong từng nét nhạc, lời ca. Đi Nam về Bắc, tôi thấy ba bốn năm nay không có bài hát nào đạt đến sự mê say “phổ cập” như vậy. Cũng như mọi người, cả nhà tôi đều mê hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;… &lt;br /&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Đầu năm 2003, vợ chồng tôi xây nhà. Đêm tôi ngủ ở công trường vì không đủ tiền thuê người bảo vệ. Tôi nằm với cái radio nhỏ xíu. Khuya mở đài, tôi bỗng nghe khúc hát như ma gọi :“Sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ / vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng… Tôi vặn to đài nghe hết bài hát. Rồi khi nghe giới thiệu lại “Các bạn vừa nghe ca khúc “Khúc hát sông quê của Nguyễn Trong Tạo”, tôi bật ngay dậy như thằng điên, chạy ùa về gọi vợ: “Tâm ơi Tâm, lên mà nghe bài hát mới của bác Tạo, hay lắm.” Vì Nguyễn Trọng Tạo là chỗ rất thân thiết của gia đình tôi. Ngực tôi bỗng chạm phải thanh gỗ ngáng đau điếng. Mới hay mình đang ở trên tầng thượng chưa xây lan can, chỉ ngáng tạm thanh gỗ để đề phòng. Hú vía, tí nữa thì phi xuống đất ở độ cao ba tầng nhà ! &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Một lần khác, ần này thì có anh Tạo. Tối ấy, hoạ sĩ Trương Bé mời anh Tạo, tôi và nhà báo Thanh Tú sang nhà anh bên Thành Nội Huế uống rượu. Sau khi đi xem tranh siêu thực mới của gia chủ, chạm nhau dăm ba chén rượu quê , Trương Bé “ra lệnh” bây giờ đến mục thơ, nhạc ! Nguyễn Trọng Tạo đứng lên, tay cầm chén rượu: ”Tạo xin hát một bài hát mới tên là &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;, phổ thơ một người bạn”. Rồi Tạo hát. Nguyễn Trọng Tạo có giọng hát hay và ấm. Càng say, cầm đũa gõ đĩa gõ bát, Tạo hát càng hay. Tạo hát xong, Thanh Tú bật dậy: ”Để em hát lại bài này”. Không ngờ cậu phóng viên báo Thế giới Điện ảnh, tính nóng như Trương Phi, nói năng bổ bả thế mà hát hay thật . Tiếng hát của Tú vang lên khiến hàng xóm hoạ sĩ cũng lẻn sang nép cửa đứng nghe. Rồi tất cả hát đồng ca. Tôi cũng hát theo. &lt;i&gt;Bầy trẻ thơ tắm mát phía thượng nguồn / Một dòng trong xanh chảy mãi tới vô cùng&lt;/i&gt;… Khuya hôm đó, xong cuộc rượu, tôi phóng xe ra đường, miệng hát Khúc hát sông quê, tay phải cầm tay ga lái xe máy, tay trái thì cứ vung xị nhặng lên trời bắt nhịp theo bài hát. Tôi phóng nhanh đến độ Thanh Tú chở Nguyễn Trọng Tạo đuổi theo vì sợ tai nạn mà không kịp ! May mà đã khuya, dân Huế lại ngủ sớm, nên đường phố rất thưa người ! &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Anh Tạo về Huế thăm vợ con, vợ tôi bắt anh tập cả tiếng đồng hồ hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;. Tập được rồi bà Minh Tâm đi chợ Bến Ngự cũng &lt;i&gt;quá nửa đời phiêu dạt&lt;/i&gt;…, đứng bếp làm cơm cũng &lt;i&gt;con cá dưới sông cây trồng trên bãi&lt;/i&gt;… Đến nỗi, giặt quần áo trong toilet cũng la lên &lt;i&gt;ơi con sông dạt dào như lòng mẹ&lt;/i&gt;… Có bữa tôi đang viết trên gác, vợ bỗng gọi toáng lên: “Ba ơi, Ba ơi (ở Huế vợ chồng gọi nhau là ba và mẹ) xuống mà nghe &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;, nhanh lên”. Nhưng tôi xuống đến nơi thì ca sĩ Anh Thơ đã hát xong, chỉ còn thấy vợ tôi vừa lau nước mắt vừa hát nối: &lt;i&gt;Ơi con sông quê con sông quê… &lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhưng chuyện mê hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt; của vợ chồng tôi không nhằm nhò gì so với bà mẹ và cậu em vợ. Bà mẹ vợ tôi năm nay 78 tuổi. Dịp Tết năm 2005, bà điện vào : ”Con nói anh Tạo cho mẹ một đĩa &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt; để mẹ hát theo”. Chả là anh Tạo đã có lần cùng tôi lên thăm ông bà ở làng Sẻ xã Nghĩa Đồng, nên bà biết. Có lần ra quê, tôi bảo bà hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;. Bà nhả miếng trầu đang nhai vào lòng tay rồi hát liền. Giọng bà còn tốt lắm. Bà còn hát nhiều bài ca trù cho con rể nghe. Tôi điện thoại, mấy ngày sau anh Tạo gửi đĩa vào ngay. Thế là từ đó bà mở &lt;i&gt;Khúc hát sông quê &lt;/i&gt;cả buổi. Đi làm cỏ rau, trồng ngô ngoài vườn cũng &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;. Mấy bà già bạn bè trong xóm đến thăm, ngồi ăn trầu bà cũng mở đĩa cho mấy bà nghe &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;. Ngay đến bé Cún, con cậu út mới bốn tuổi lủn củn theo sau lưng bà, cũng hát, giọng còn ngọng: quá nửa đời xiêu dạt…Vì thế mà ở làng Sẻ bây giờ nhiều người thuộc bài hát ấy lắm. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cậu em kề vợ tôi là Nguyễn Thanh Tuấn, giám đốc Trung tâm giáo dục Chính trị huyện Tân Kỳ. Ở nhà cậu có cái máy đĩa. Cậu tua thế nào đó, mà suốt ngày máy toàn hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;, hát hết bài lại quay lại từ đầu. Có lần đi họp các trường đảng Nghệ An, cậu cũng lên diễn đàn hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt; và được xếp loại “Sao Mai quan chức”. Đi dạy chính trị cậu bao giờ cũng dành mấy phút cuối giờ để hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt; cho học trò nghe, rồi mời học viên cùng hát. Giọng cậu khoẻ, vang mà ngọt. Cậu bảo: ”Trăm bài giảng của mình về quê hương đất nước không bằng hát thuộc bài của bác Tạo!” . Dạy lớp bồi dưỡng bí thư chủ tịch các xã ở trường, hay về các xã nói chuyện thời sự, cậu lúc nào cũng hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;. Đến nỗi bây giờ tất cả bí lãnh đạo đảng, chính quyền xã nào ở Tân Kỳ cũng hát Khúc hát sông quê. Đến nay thì hình như cả huyện ai cũng thuộc &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;.! &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Năm 2004, tôi dự trại sáng tác Văn học ở Nhà sáng tác Vũng Tàu, mới biết không chỉ gia đình tôi mà cả nước ai cũng thích và say bài hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;. Tôi quen nhà thơ Lê Huy Mậu từ lâu. Không ngờ hắn lại có bài thơ hay thế. Mậu kể, năm 2002, Nguyễn Trọng Tạo đang vào Vũng Tàu dự trại sáng tác âm nhạc của Hội nhạc sĩ Việt Nam, Mậu gửi cho Tạo một chương trong trường ca THỜI GIAN KHẮC KHOẢI để in báo Thơ. Vì Tạo lúc này đang làm báo THƠ của Hội Hhà văn. Nguyễn Trọng Tạo đã lọc lấy những câu hay trong đó để phổ nhạc, thành một bài hát cực hay. Mậu bảo: “Nhờ bác Tạo phổ nhạc thơ mà có thêm rất nhiều người biết Mậu. Đó là mình được thơm lây”. Ấy là Mậu khiêm tốn thế. Không có bột làm sao gột nên hồ! Sự đồng cảm của hai tâm hồn xứ Nghệ tha hương đã làm nên một ca khúc tuyệt vời. Nhưng nổi tiếng nhiều người biết cũng khổ. Thế là từ khi bài hát được ca sĩ Anh Thơ hát trên VTV, Lê Huy Mậu phải suốt ngày nghe điện thoại chúc mừng. Có khi nửa đêm về sáng vẫn còn phải nhấc máy trả lời điện thoại. Và suốt ngày tiếp khách nhậu. Vô vàn cuộc nhậu. Quen cũng nhậu, lạ cũng nhậu. Nhiều người đánh xe con từ thành phố Hồ Chí Minh ra, từ Gia Lai xuông mang theo rượu ngon, đồ mồi xịn, tìm cho được nhà ông “Khúc hát sông quê”. Thế là không quen cũng phải nâng chén chén tì tì. Nhậu rồi hát Khúc hát sông quê. Chưa say thì hát còn nghe được. Khi rượu ngấm rồi thì mấy đực rựa khoác vai nhau nghiêng ngả, hát nức nở như khóc: &lt;i&gt;Quá nửa đời phiêu dạt / Con lại về úp mặt vào sông quê… &lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hôm tổng kết trại sang tác, đến tiết mục giao lưu, nhà thơ Tùng Bách lên giành micro nói nghiêm trang: ” Phía Hội văn nghệ Bà Rịa-Vũng Tàu xin giới thiệu một nhà thơ nổi tiếng có bài thơ Khúc hát sông quê mà nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc . Mời anh lên đọc lại bài thơ trước, rồi tôi sẽ hát phục vụ nhân dân sau”. Lê Huy Mậu bẽn lẽn như con gái mới về nhà chồng, đỏ mặt lên sân khấu đọc thơ. Tùng Bách hát sông quê khá chuẩn. Nổi máu thi sĩ, dù trước đó đã đọc thơ rồi, tôi vọt lên sân khấul Thế là hai thằng quàng vai nhau hét: :“&lt;i&gt;Ơi con sông quê con sông quê…&lt;/i&gt;Không khí bốc đến độ cả hội trường năm sáu chục người cùng đứng lên đồng ca . Người ngả bên này, kẻ ngả bên khác, người hát câu này, kẻ thuộc câu khác, ngất ngưỡng, nồng nàn, dan díu… &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tưởng dân Nghệ, dân miền Trung, miền Nam mê &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;. Mới đây tôi mới biết dân miền Bắc cũng mê Nguyễn Trọng Tạo. Anh Tạo kể có một ông lãnh đạo thị xã Tam Điệp, đêm thứ bảy đang ở đang ở xa trị xã mấy chục cây số. Thế mà khi nghe đệ tử điện thoại báo cáo có anh Nguyễn Trọng Tạo từ Hà Nội ghé qua. Thế là xếp liền bỏ hết mọi sự, ra lệnh lái xe phóng xe về ngay. Về chỉ để bắt tay, ôm hôn Nguyễn Trọng Tạo và xin phép được “Hát cho tác giả nghe” bài hát Khúc hát sông quê . Đêm ấy đến mãi gần hai giờ sáng cuộc hát mới tàn. Tôi biết anh Tạo có nhiều bài hát hay như Đôi mắt đò ngang, Con dế buồn, v.v.. nhưng nhắc đến Nguyễn Trọng Tạo, người hâm mộ đều thuộc và nhớ hai “bài tủ” của anh: &lt;i&gt;Làng quan họ quê tôi&lt;/i&gt; và &lt;i&gt;Khúc hát sông quê.&lt;/i&gt; Đó cũng là hai bài hát thuộc loại top ten hiên nay. Đây chính là hồn vía của Tạo. Nó sẽ sống mãi với đất nước này. Đó là bài hát của mọi người ! Một người sáng tác nhạc “tay trái” mà có được hai bài hát nằm lòng thế cũng đáng đồng tiền bát gạo. Cả nhà tôi hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;, cả nước hát &lt;i&gt;Khúc hát sông quê&lt;/i&gt;, vì đó chính là điệu tâm hồn dân tộc mà Nguyễn Trọng Tạo - Lê Huy Mậu đã nhen lên từ nhịp đập của trái tim tha hương xứ Nghệ … &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Ngô Minh&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-6541784970385346272?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/6541784970385346272/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=6541784970385346272' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/6541784970385346272'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/6541784970385346272'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2008/03/khc-ht-sng-qu-nhp-p-ca-nhng-tri-tim-tha.html' title='&quot;Khúc hát sông quê&quot; - Nhịp đập của những trái tim tha hương'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://bp2.blogger.com/_00_g1Eiau_0/R9O8Py7K7qI/AAAAAAAAALU/eMXL3fHsoW4/s72-c/0907Po01L.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-8115208271430295948</id><published>2011-10-28T15:40:00.001+07:00</published><updated>2011-10-28T15:48:11.606+07:00</updated><title type='text'>"Giải mã" bài ca dao Thằng Bờm</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-nv6FPs3bbq0/TqppoVRdxxI/AAAAAAAAArs/jArpGbsvpBo/s1600/bom-2.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="320" src="http://2.bp.blogspot.com/-nv6FPs3bbq0/TqppoVRdxxI/AAAAAAAAArs/jArpGbsvpBo/s320/bom-2.jpg" width="300" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;"Thằng Bờm có cái quạt mo..."&lt;/i&gt;, có lẽ bất cứ người dân Việt nào đều biết đến bài ca dao vui vẻ và tinh nghịch này. Ngay cả đến nhân vật Bờm trong bài ca dao (dù rất ngắn, chỉ 10 câu thơ) cũng "đi" vào đời sống nhân dân và trong &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?gl=DE&amp;amp;v=TCbadL2NkrU"&gt;phim ảnh&lt;/a&gt;. Chẳng hạn, khi muốn chê bai một ai đó làm những việc ngớ ngẩn và vô nghĩa, người ta thường nói: "Đúng là Bờm", "Bờm thế"...Điều đó cũng thể hiện sức ảnh hưởng dài lâu và một cách hiểu rất phổ biến của đa số mọi người về bài thơ này. Tuy nhiên, với trí tuệ uyên bác nhưng cũng không kém phần hóm hỉnh của những "người sáng tạo" dân gian, có phải bài ca dao và các hình ảnh trong đó chỉ mang một ý nghĩa đơn giản và dễ đoán định như trên không? Hay là nó còn mang những tầng ý nghĩa khác, thâm thúy và sâu xa hơn nhiều? Mời các bạn hãy xem tác giả Nguyễn Trọng Bình "giải mã" bài ca dao đáng yêu này nhé. Bài đã đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay. Xin cảm ơn tác giả Nguyễn Trọng Bình (Cần Thơ).&lt;br /&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;------------------------------------------------ &lt;br /&gt;&amp;nbsp;&lt;span class="c1"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; Một bài ca dao chỉvỏn vẹn 10 câu thơ lục bát, thế nhưng để lĩnh hội nó là điều không đơn giảnchút nào. Có thể nói, cho đến nay, có khá nhiều bài viết của các nhà nghiên cứuđề xuất những cách hiểu khác nhau về bài ca dao ngộ nghĩnh và đáng yêu này.&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;b&gt;1. Những cách hiểu khác nhau về bài ca dao &lt;i&gt;Thằng Bờm&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;Tựu trung lại đến thời điểm này, về cơ bản tồn tại 3 nhómcách hiểu khác nhau về bài ca dao thằng Bờm, có thể tóm tắt như sau:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;- Cách hiểu thứ nhất: Bài ca dao là tiếng cười đả kích, châm biếm nhânvật thằng Bờm - kẻ “ngu dốt”, “tham ăn, thực dụng”, tít mắt trước “nắm xôi” củalão Phú ông. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;- Cách hiểu thứ hai: Bài ca dao là tiếng cười đả kích, châm biếm nhânvật Phú ông và ca ngợi nhân vật thằng Bờm - người “thông minh”. &lt;i&gt;“&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;Dângian đã nhọc lòng sáng tạo ra Bờm, cho Bờm nhận một “hòn xôi” để gởi vào đấymột triết lý thật đơn giản mà cũng thật sâu sắc : tôi chỉ nhận đúng cái mìnhcó, nếu nhận quá đi sẽ thành bi kịch.”&lt;/i&gt; &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;- Cách hiểu thứ ba: Không chấp nhận hai cách hiểu trên, có người đềxuất cách hiểu bài ca dao thằng Bờm ở góc nhìn &lt;i&gt;“&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;khám phá nhữngđặc trưng văn hóa mang tính bản sắc trong thái độ của Bờm và của Phú ông”&lt;/i&gt;.Tiêu biểu cho cách hiểu này là bài viết của Đỗ Minh Tuấn đăng cách nay cũng khálâu trên báo Văn nghệ trẻ. Và theo Đỗ Minh Tuấn thì &lt;i&gt;“Bài ca dao "ThằngBờm", dù có ý thức hay không đã phát lộ khát vọng văn hóa trong con ngườiViệt Nam là khát vọng lớn hơn khát vọng của cải. Quan hệ văn hóa đã lấn át quanhệ thương mại, dẫn đến cái giá trị hơn vàng bạc hay tiền của, khát vọng về đổithay thân phận và đổi thay diện mạo lớn hơn khát vọng về tài sản. Cái quạt mo ởđây chính là biểu trưng của bản lĩnh văn hóa, không để mất văn hóa bằng mọigiá.”&lt;/i&gt; &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Nhìn lại 3 nhóm cách hiểu trên, có thể nói, tuy ít nhiều cũng đã có nhữngkiến giải khá hợp lý nhưng nhìn chung cách hiểu nào cũng bộc lộ những hạn chếnhất định trong phương pháp tiếp cận vì vậy đưa đến các kết luận cuối cùng cònnhiều vấn đề chưa thỏa đáng. Nếu ở nhóm cách hiểu thứ nhất và thứ hai, do quáchú trọng đến việc “giải mã” nội dung xã hội (khá giản đơn và máy móc) của toànbài ca dao mà cụ thể là xoay quanh cuộc “mặc cả” giữa Phú ông và thằng Bờm về“cái quạt mo” mà quên đi cái “không gian văn hóa” – môi trường ra đời và tồntại của bài ca dao thì ở cách hiểu thứ 3 lại quá “say sưa” trong việc “&lt;i&gt;khámphá những đặc trưng văn hóa mang tính bản sắc trong thái độ của Bờm và của Phúông”&lt;/i&gt; mà quên đi vấn đề đặc trưng của thể loại văn học dân gian. Với các tácphẩm văn học dân gian nói chung, nếu áp đặt cách tư duy của người hiện đại vàlấy đó “giải mã” cho tư duy của tác giả dân gian thì e là cũng khó tạo được sựđồng thuận. Cho nên, từ “cái quạt mo” của thằng Bờm mà nâng lên thành &lt;i&gt;“cáiquạt mo - một siêu giá trị”&lt;/i&gt; văn hóa (hay&lt;i&gt;“cái quạt mo ở đây chính là biểutrưng của bản lĩnh văn hóa, không để mất văn hóa bằng mọi giá”)&lt;/i&gt;; và từtiếng cười của thằng Bờm mà nâng lên thành &lt;i&gt;“Nụ cười Bờm - một bản lĩnh nướcđôi”&lt;/i&gt; như cách nói của Đỗ Minh Tuấn e là có gì đó hơi gượng gạo và mang nặngtính suy diễn.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Khắc phục những hạn chế trên, bài viết này sẽ đưa ra cách “giải mã” bàica dao trên cơ sở tiếp thu những kiến giải hợp lý từ các quan điểm trước đó.Bên cạnh đó, là sự tôn trọng văn bản và nội dung của bài ca dao cũng như tôntrọng những đặc trưng về thi pháp và thể loại của tác phẩm văn học dân gian nóichung. Và theo chúng tôi thì đ&lt;span class="c1"&gt;ể có thể “giải mã” được tinh thầncủa bài ca dao này, thiết nghĩ việc đầu tiên cần làm là phải “giải mã” cho đượclai lịch của nhân vật Phú Ông và nhân vật thằng Bờm cũng như phải lý giải chođược vì sao nhân vật Phú Ông lại quyết tâm đổi cái quạt mo và đặc biệt là “giảimã” ý nghĩa tiếng cười của thằng Bờm trên cơ sở các đặc điểm về tính biểu trưngtrong tác phẩm văn học dân gian này.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;2.&lt;span class="c1"&gt; “Giải mã” lai lịch nhân vật Phú ông và thằng Bờm &lt;i&gt;&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;Trước hết, chúng ta cùng đọc lại bài ca dao:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Thằng Bờm cócái quạt mo&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt; &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Phú Ông xin đổi ba bò chín trâu&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Phú Ông xin đổi ao sâu cá mè.&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Phú Ông xin đổi một bè gỗ lim.&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Phú Ông xin đổi con chim đồi mồi&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;span class="c1"&gt;&lt;i&gt;Phú Ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười!&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="msonormalc3" style="margin-bottom: .0001pt; margin: 0in; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Dựa vào văn bản bài ca dao cũng như trên cơ sở các tác phẩm văn học dângian khác có nhắc đến nhân vật Phú Ông &lt;i&gt;(Sự tích con Thạch Sùng, Giận mày taoở với ai, Cây tre trăm đốt…)&lt;/i&gt; có thể phác họa lai lịch của nhân vật Phú Ôngtrong tư duy của tác giả dân gian nói chung và trong bài ca dao &lt;i&gt;Thằng Bờm&lt;/i&gt;như sau:&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;- Phú Ông:Trong tư duy dân gian đó là những tên nhà giàu thời xưa với những đặc điểm như:tham lam, keo kiệt, bủn xỉn, ngu dốt và hay khoe khoang… mà tác giả dân gian cókhi còn gọi là những tên “trọc phú”. Tùy vào hoàn cảnh cụ thế mà tác giả dângian xây dựng nhân vật Phú Ông thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm này hay đặcđiểm kia hoặc có khi là tất cả các đặc điểm trên. &lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;- Qua văn bảnbài ca dao thằng Bờm, đặc biệt là qua cuộc “mặc cả” giữa lão Phú Ông với ThằngBờm có thể thấy nhân vật Phú Ông được tác giả dân gian nhấn mạnh với tổng hợpcác đặc điểm của một tên nhà giàu trọc phú là: &lt;b&gt;&lt;i&gt;giàu có, ngu dốt, tham lamvà đặc biệt là rất hay khoe khoang&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;. Đến đây hẳn có người sẽ thắc mắc,các đặc điểm &lt;b&gt;&lt;i&gt;giàu có, ngu dốt, tham lam&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; là phải rồi nhưng dựa vàođâu để nói là nhân vật Phú Ông này hay &lt;b&gt;&lt;i&gt;khoe khoang&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;? Vấn đề nàychúng tôi xin sẽ giải thích ở phần sau. Bây giờ chúng ta tiếp tục đi tìm lailịch nhân vật thằng Bờm.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Dựa vào văn bản bài ca dao và tính biểu trưng của văn học dân gian chúngta có thể giải mã lai lịch nhân vật thằng Bờm trong bài ca dao này như sau:&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;- “Thằng Bờm”và “cái quạt mo” (tài sản duy nhất của nó) là hình ảnh mang tính biểu trưngnhằm nói về một hạng người nghèo khó, cùng đinh trong xã hội cũ mà tác giả dângian xây dựng trong thế đối lập với hạng người giàu có là Phú Ông (với rấtnhiều tài sản &lt;i&gt;“ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim, con chim đồi mồi,nắm xôi…”&lt;/i&gt;)&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;- “Thằng Bờm”trong bài ca dao là một anh chàng tuy nghèo nhưng rất thông minh và có gì đórất lém lĩnh bởi hắn chỉ có duy nhất “cái quạt mo” nhưng buộc lão Phú Ông phải“xuống nước” “năn nỉ”, “van xin” để đổi lấy bằng những tài sản quý giá.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Nói tóm lại, thông qua những hình ảnh biểu trưng như: &lt;i&gt;“cái quạt mo”&lt;/i&gt;của thằng Bờm; hay những hình ảnh &lt;i&gt;“ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗlim, con chim đồi mồi, nắm xôi…”&lt;/i&gt; của Phú Ông trong bài ca dao này tác giảdân gian trước hết muốn nói đến lên hai hạng người trong xã hội cũ trong thếđối lập đó là: gã trọc phú nhà giàu nhưng tham lam, ngu dốt rất hay khoe khoangvà anh “dân đen” cùng đinh nhưng thông minh, lém lĩnh. &lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;3.&lt;span class="c1"&gt; “Giải mã” vì sao Phú Ông lại “năn nỉ” thằng Bờm? &lt;i&gt;&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;“Giải mã” vấn đề này chúng ta sẽ tiến thêm một bước rất quan trọng trongviệc “giải mã” tinh thần chung của toàn bài ca dao. &lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Trước hết, đọc toàn bài ca dao chúng ta thấy lão Phú Ông giàu có vớinhiều tài sản quý giá nhưng rất quyết tâm đi “năn nỉ” thằng Bờm để đổi lấy “cáiquạt mo”. Hắn điên rồi chăng, hay cái quạt mo của thằng Bờm là “quạt thần”?Chắc chắn đều không phải, không có cơ sở nào để lý giải các điều ấy. &lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Thực ra Phú Ông không điên, “cái quạt mo” của thằng Bờm cũng không phảiquạt thần gì cả. Tất cả chỉ vì cái tính tham lam, ngu dốt và nhất là rất hay &lt;b&gt;&lt;i&gt;khoekhoang&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; của tên trọc phú mà ra. Nếu nhìn lại nhân vật Phú Ông trong bàica dao này chúng ta sẽ thấy có gì đó giống với nhân vật Thạch Sùng – cũng làmột tên Phú Ông sau khi đã qua cái thời “khố rách áo ôm” trong&lt;i&gt; Sự tích conThạch Sùng&lt;/i&gt; với câu châm ngôn quen thuộc&lt;i&gt;“Thạch Sùng thiếu mẻ cá kho”&lt;/i&gt;.Trong sự tích này chúng ta hẳn đều biết Thạch Sùng sau khi giàu có và trở thànhmột Phú Ông giàu “nứt đố, đổ vách” hắn đã vênh váo với tất cả mọi người rằngnhà hắn &lt;b&gt;&lt;i&gt;“không thiếu một thứ gì”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; thế nhưng có người mang ra “mẻcá kho” (hình ảnh biểu trưng cho cuộc sống của những người cùng đinh, nghèokhó) thì hắn mới vỡ lẽ. Trong cái nhìn tương tự có thể thấy, rất có thể bài cadao thằng Bờm chính là những câu chuyện mà tác giả dân gian trước hết muốn châmbiếm đả kích hạng người giàu có, ngu dốt và rất hay huênh hoang, tự đắc. LãoPhú Ông trong bài ca dao vì thế, không phải điên khi đem rất nhiều tài sản quýgiá ra để đổi “cái quạt mo” của thằng Bờm mà đây là cuộc “đấu trí” của lão trọcphú ngu dốt, huênh hoang và kẻ cùng đinh nhưng thông minh, lém lĩnh. Lão trọcphú đã huênh hoang cho rằng nhà ta “cái gì cũng có” nhưng khi thằng Bờm trưngra “cái quạt mo” thì lão mới tá hỏa. Nếu &lt;i&gt;“Thạch Sùng thiếu mẻ cá kho”&lt;/i&gt;thì tên Phú Ông này thiếu cái “cái quạt mo” cũng không có gì là lạ và khó hiểu.Tuy nhiên, cái độc đáo trong bài ca dao thằng Bờm không phải chỉ có bao nhiêuđó. Không giống với truyện Thạch Sùng, tác giả dân gian trong bài ca dao ThằngBờm còn tiến thêm bước nữa là để cho Lão Phú ông tìm cách sở hữu cái mà trongnhà hắn còn thiếu. Vấn đề là sở hữu bằng cách nào? Lẽ thường với vị thế trongxã hội có thể nói, những tên trọc phú thời xưa không khó để chiếm đoạt “cáiquạt mo” của những hạng người cùng đinh, “thấp cổ bé miệng”. Tuy nhiên, với tưduy dân gian, và có lẽ &lt;i&gt;cùng với cái khát vọng, cái ước mơ muốn san bằngnhững nỗi bất công trong xã hội, tác giả dân gian đã rất thông minh dựng lên“kịch bản” Phú Ông phải đi “năn nỉ” thằng Bờm để có “cái quạt mo”&lt;/i&gt;. Đây làmột bằng chứng cho chúng ta thấy sự phong phú trong trí tưởng tượng và nét đẹpcủa trí tuệ - tư duy dân gian ngàn đời của cha ông. Những tên trọc phú nhà giàurồi sẽ có lúc nào đó cũng phải “xuống nước” năn nỉ kẻ cùng đinh. Có thể nói,với cách tư duy độc đáo này, tác giả dân gian đã để lại cho chúng ta một bài cadao mang tính biểu trưng có ý nghĩa vô cùng sâu sắc và độc đáo.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&amp;nbsp;Cho nên, chỉ có cách giải thích lão Phú ông trong bài ca dao &lt;i&gt;ThằngBờm&lt;/i&gt; là một tên trọc phú vừa ngu dốt vừa tham lam và đặc biệt là rất &lt;b&gt;&lt;i&gt;haykhoe khoang&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; nên đã thua trí thằng Bờm là phù hợp với cái logic lãoquyết tâm đem nhiều tài sản có giá trị ra để năn nỉ thằng Bờm đổi lấy “cái quạtmo” không có giá trị.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;4. “Giảimã” cái cười của thằng Bờm.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Ngẫm lại bài ca dao, chúng ta thấy, nhờ nắm được “cái tẩy” tham lam, ngudốt và nhất là hay khoe khoang, vênh váo của lão Phú Ông khi bảo rằng “nhà takhông thiếu thứ gì” nên thằng Bờm với trí thông minh và sự lém lĩnh đã dạy cholão một bài học. Một “cái quạt mo” không có giá trị nhưng lại là vật còn thiếutrong nhà của tên Phú Ông. Thằng Bờm đã “cược” với lão như thế và lão đã thua.Nhưng với bản tính tham lam, ngu dốt, lão Phú Ông không ngần ngại vung tiền rađể sở hữu cho bằng được “cái quạt mo” (vì nếu đổi được sau này hắn sẽ càng cócơ hội huênh hoang hơn là giờ đây nhà ta chắc chắn sẽ không thiếu một thứ gì).Tuy nhiên, kết quả như thế nào thì mọi người đã rõ. Tên trọc phú trong cuộc“mặc cả” cuối cùng chỉ nhận duy nhất một “cái cười” của Thằng Bờm (kẻ cùng đinhlém lĩnh). Đến đây cho chúng ta thấy tư duy dân gian quả là rất “ghê gớm”. Mộtcái cười thật là thâm sâu, có một không hai!&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Để “giải mã” cho cái cười của thằng Bờm trong bài ca dao này có một chitiết vô cùng quan trọng mà chúng ta không thể bỏ qua đó là: trong quá trình“mặc cả” giữa lão Phú Ông và thằng Bờm, sau mỗi lần thằng Bờm “lắc đầu” khôngchịu đổi “cái quạt mo” cho lão thì giá trị của vật mà lão đem ra đổi lại hạthấp dần. Theo logic thông thường điều này không phù hợp chút nào. Đầu tiên anhmang &lt;i&gt;“ba bò chín trâu”&lt;/i&gt; ra đổi người ta không chấp nhận vậy anh phải nânglên thành &lt;i&gt;“mười bò, hai mươi trâu”&lt;/i&gt; mới hợp lẽ, đằng này anh lại hạ thấpxuống còn chỉ một &lt;i&gt;“nắm xôi”.&lt;/i&gt; Giải thích vấn đề này như thế nào đây? Lâunay các nhà nghiên cứu thường “lơ” vấn đề này khi đi vào phân tích bài ca daonày. Hoặc không thì có nhiều người để lý giải cho sự “thông minh” và tính“không tham lam” của thằng Bờm lại cho rằng thằng Bờm không bị mắc lừa lão PhúÔng, nó chỉ lấy “nắm xôi” là vật ngang giá với “cái quạt mo”. Hơn nữa lấy “nắmxôi” thì có thể bỏ vào mồm ngay lão Phú Ông nếu có đòi lại cũng không được. Từđó khái quát lên trong cuộc sống không nên quá tham lam, “chỉ nên nhận những gìmình xứng đáng được nhận”… Thực ra, những cách hiểu này là máy móc, hiểu nhưthế sẽ không thấy hết thâm ý của tác giả dân gian về cái cười của thằng Bờm ởcâu thơ cuối. Vậy thì phải hiểu chi tiết này như thế nào đây? Như đã phân tíchở trên, lẽ thường khi anh đưa ra điều kiện đổi, người ta không chấp nhận thìanh phải tăng giá trị vật anh lấy ra đổi mới hợp logic. Cho nên, trong trườnghợp này chúng ta phải hiểu là sau khi lão Phú Ông mang &lt;i&gt;“ba bò chín trâu”&lt;/i&gt;ra đổi &lt;i&gt;“cái quạt mo”&lt;/i&gt; nhưng thằng Bờm không chịu đổi, tiếp theo lão lạibảo &lt;i&gt;“thế thì tao cộng thêm cho mày “một ao sâu cá mè” nữa nhé”&lt;/i&gt; nhưngthằng Bờm vẫn không chịu đổi. Và cứ như thế lão Phú Ông lại cộng thêm, cộngthêm mãi cho đến cái tài sản có giá trị nhỏ nhất trong nhà lão là “nắm xôi”nhưng rồi cuối cùng thằng Bờm chỉ trả lời lão bằng duy nhất một nụ cười màthôi. Phải hiểu như thế này chúng ta mới có thể “giải mã” cho cái cười củaThằng Bờm và đồng thời cũng là “giải mã” cho cái cười thể hiện vẻ đẹp của trítuệ và tư duy dân gian của người xưa: dù thằng Bờm cười - đồng ý hay cười -không đồng ý đổi “cái quạt mo” thì trong cuộc đấu trí giữa tên “trọc phú” vàanh “dân đen” cuối cùng tên trọc phú cũng thua một cách thật thảm hại và nhụcnhã. Bởi vì:&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Thứ nhất: Đường đường là một Phú Ông vốn luôn tự đắc “nhà ta không thiếuthứ gì” nhưng hóa ra lại không có “cái quạt mo” như nhà thằng Bờm.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Thứ hai: Đường đường là một Phú Ông nổi tiếng giàu có nhưng phải hạ mìnhđi “năn nỉ” một thằng dân đen nghèo mạt rệp.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Thứ ba: tất cả tài sản của lão Phú Ông suy cho cùng cũng chỉ ngang bằng“cái quạt mo” của thằng dân đen (trường hợp thằng Bờm cười và đồng ý đổi) haytệ hại hơn là không bằng một “cái quạt mo” của thằng dân đen (trường hợp thằngBờm cười nhưng không đồng ý đổi). Điều này quả là quá nhục nhã.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;5. Kết luậnchung hay là việc “giải mã” những tầng bậc ý nghĩa của bài ca dao &lt;i&gt;Thằng Bờm&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;Trên cơ sở những phân tích nhằm “giải mã” lai lịch lão Phú Ông, “giải mã”lai lịch thằng Bờm; “giải mã” vì sao Phú Ông lại đem những tài sản có giá trịcủa mình để đổi lấy “cái quạt mo”; “giải mã” tiếng cười của thằng Bờm… có thểrút ra những kết luận “giải mã” toàn bài ca dao thằng Bờm (tùy vào mỗi gócnhìn) với những cấp độ ý nghĩa như sau:&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;5.1 Bài ca dao &lt;i&gt;Thằng Bờm&lt;/i&gt; là tiếng cười châm biếm, đả kích nhữnghạng người giàu có nhưng tham lam, ngu dốt và &lt;b&gt;&lt;i&gt;đặc biệt là rất hay khoekhoang, vênh váo, tự đắc, mình là số một trong thiên hạ&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; – một dạng“trọc phú” hay “trưởng giả học làm sang” trong xã hội mà Đông Tây, kim, cổ đềucó.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;5.2 Trong cái nhìn của người xưa, bài ca dao &lt;i&gt;Thằng Bờm&lt;/i&gt; ở góc độnào đó phản ánh sự bất công trong xã hội (Phú Ông - đại diện cho bọn “trọc phú”giàu có lắm bạc nhiều tiền sẵn sàng vung ra mua lấy cái danh hão nhằm thỏa mãncho những thú vui ích kỷ của bản thân trong khi đó Thằng Bờm - đại diện chonhững con người nghèo khó cơ cực không có một tài sản gì quý giá). Tiếng cườicủa thằng Bờm ở cuối bài ca dao là tiếng cười để tác giả dân gian qua đó bộc lộnhững khát vọng, những ước mơ chính đáng về một cuộc sống, một xã hội côngbằng, dân chủ.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;5.3 Qua cuộc mặc cả giữa Phú Ông và thằng Bờm, bài ca dao thể hiện mộttriết lý nhân sinh có ý nghĩa muôn thuở của người xưa đó là: trong cuộc sốngkhông phải anh có tiền, có của là anh muốn gì cũng được, mua gì cũng được, đổigì cũng được, làm gì cũng được...&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;5.4 Nhìn ở góc độ văn hóa, bài ca dao &lt;i&gt;Thằng Bờm&lt;/i&gt; một lần nữa khẳngđịnh chiều sâu của vẻ đẹp trí tuệ và tư duy dân gian sâu sắc và độc đáo củangười xưa: những kẻ mà trong cuộc sống tuy giàu về tiền bạc, của cải nhưng chưachắc đã “giàu” về trí tuệ, ngược lại những người nghèo khó về tiền bạc nhưng cókhi họ rất “giàu” về trí tuệ. Hay nói cách khác đó là cách nói “nhân vô thậptoàn” của người xưa.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: 0.1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;Nguyễn Trọng Bình&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;--------------------------------&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoEndnoteText" style="margin-bottom: .1in; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; text-align: justify;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;[1]&lt;/span&gt; &lt;b&gt;&lt;i&gt;Thằng Bờm có cái quạt mo&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; - Bài của Lê Tiến Dũng in trên lần đầu trên &lt;i&gt;Kiến thức ngày nay&lt;/i&gt; năm 1997được chúng tôi trích dẫn lại từ trang web khoavanhoc-ngonngu.edu.vn của Khoavăn học và ngôn ngữ, trường Đại học KHXH&amp;amp; Nhân văn TP. Hồ Chí Minh. &lt;/div&gt;&lt;div class="MsoEndnoteText" style="margin-bottom: .1in; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; text-align: justify;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;[2]&lt;/span&gt; &lt;b&gt;&lt;i&gt;Một cách hiểu về bài ca daothằng Bờm&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; - Bài của Đỗ Minh Tuấn in lần đầu trên Văn nghệ trẻ đượcchúng tôi trích dẫn lại từ trang web www.suutap.com.&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-8115208271430295948?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/8115208271430295948/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=8115208271430295948' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/8115208271430295948'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/8115208271430295948'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/10/giai-ma-bai-ca-dao-thang-bom.html' title='&quot;Giải mã&quot; bài ca dao Thằng Bờm'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-nv6FPs3bbq0/TqppoVRdxxI/AAAAAAAAArs/jArpGbsvpBo/s72-c/bom-2.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-3769141951888146408</id><published>2011-10-19T04:04:00.001+07:00</published><updated>2011-10-19T14:42:45.880+07:00</updated><title type='text'>Dạ cảm</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-8uKhkXh6kkc/Tp3psvH6jWI/AAAAAAAAArk/hvIpjwe354c/s1600/IMG_0732.JPG" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="240" src="http://2.bp.blogspot.com/-8uKhkXh6kkc/Tp3psvH6jWI/AAAAAAAAArk/hvIpjwe354c/s320/IMG_0732.JPG" width="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;(Viết trong một đêm mất ngủ)&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Lang thang đêm cuối manh rèm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Mùa trăng trót dại êm đềm dạ thưa&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;div style="color: blue;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Bên song người có đợi chờ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Nửa bờ rêu rủ câu thơ ướt đầm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Tiêu dao tiếng nói dạ cầm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Nguyên khôi màu gió mặc trầm mưa bay&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Hao hanh sóng cỏ sao gầy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Miên di thiềm vắng tháng ngày xanh xa&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Gói tròn cơn mộng bao la&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="color: blue; font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;"&gt;Mê si một thuở ta bà. Thôi. Em!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-3769141951888146408?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/3769141951888146408/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=3769141951888146408' title='1 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/3769141951888146408'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/3769141951888146408'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/10/da-cam.html' title='Dạ cảm'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-8uKhkXh6kkc/Tp3psvH6jWI/AAAAAAAAArk/hvIpjwe354c/s72-c/IMG_0732.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-1490286878063315532</id><published>2011-10-14T03:04:00.000+07:00</published><updated>2011-10-14T04:41:39.032+07:00</updated><title type='text'>Phạm Duy: Thơ phổ nhạc</title><content type='html'>&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-3ha-rYKrenI/TpdDCG_X68I/AAAAAAAAArM/M_NwvLUd5BE/s1600/pham_duy_20110502_1051721719.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="320" src="http://4.bp.blogspot.com/-3ha-rYKrenI/TpdDCG_X68I/AAAAAAAAArM/M_NwvLUd5BE/s320/pham_duy_20110502_1051721719.jpg" width="274" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Phạm Duy - tranh Bửu Chỉ&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: purple; text-align: justify;"&gt;Phạm Duy là một trong những nhạc sỹ nổi tiếng nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Với một gia tài âm nhạc đồ sộ, trong đó có các tác phẩm đã ghi dấu ấn thật sâu đậm trong lòng người nghe của rất nhiều thế hệ như: &lt;i&gt;Tình ca, Tiếng sáo Thiên Thai, Ngày xưa Hoàng Thị, Con đường cái quan, Bà mẹ Gio Linh, Tình hoài hương, Mẹ Việt Nam, Cô hái mơ, Quê nghèo,...&lt;/i&gt; Âm nhạc Phạm Duy rất đa dạng, phong phú từ thể loại cho tới đề tài. Khi thì những bài hát tụng xưng quê hương, lúc thì viết về những kiếp người, về tình yêu lứa đôi, những suy tư với cuộc sống,... với nhiều cách thể hiện và với các hình tượng âm nhạc khác nhau. Ông cũng là người có công làm mới những bài dân ca, bằng cách phổ lại nhạc (hoặc đặt lại lời mới) cho chúng. Nhờ đó mà những bài dân ca này lại tiếp tục được sống trong lòng công chúng yêu nhạc vì nó phù hợp với tâm lý, tình cảm của con người trong hiện tại. Ở đây, nét nhạc Phạm Duy hào hoa, tình tứ, bay bướm và lả lơi.&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;div style="color: purple;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: purple; text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: purple; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Một trong những biệt tài (có thể gọi là thiên tài cũng không sai) của Phạm Duy, đó là ông đã phổ nhạc cho những bài thơ. Có rất nhiều nhà thơ đã được Phạm Duy phổ nhạc. Quả thật khi nghe những bài hát do ông phổ nhạc mới thấy được những bài thơ đã được chắp cánh để bay cao hơn, xa hơn và dễ đi vào lòng người. Có hơn 300 bài thơ đã được ông phổ nhạc. Có thể kể ra đây những bài hát phổ thơ nổi tiếng của ông: &lt;i&gt;Tiếng sáo Thiên Thai (thơ Thế Lữ), Lá diêu bông, Bên kia sông Đuống, Tình cầm (thơ Hoàng Cầm), Áo anh sứt chỉ đường tà (thơ Hữu Loan), Tiếng thu (thơ Lưu Trọng Lư), Ngậm ngùi (thơ Huy Cận), Tỳ bà (thơ Bích Khê), Đưa em tìm động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị (thơ Phạm Thiên Thư), Em hiền như Masoeur, Thà như giọt mưa (thơ Nguyễn Tất Nhiên),...&lt;/i&gt; Thơ và nhạc có mối quan hệ cực kỳ gần gũi với nhau (nói như nhạc sỹ Ngọc Đại: "Nhạc và thơ như vợ với chồng"), nhiều khi khó mà phân biệt nổi đâu là nhạc, đâu là thơ nữa. Hơn thế, ngôn ngữ Việt lại có tính đa dạng về thanh âm, được thể hiện rất rõ qua những câu hò điệu ví. Việc phổ nhạc cho những bài thơ có cái khó ở chỗ là làm sao phải giữ được ý thơ nguyên bản, lại phải làm sao tìm được âm giai phù hợp cho những câu, những chữ trong bài thơ đó. Nhiều nhạc sỹ đã tìm cách phổ thơ mà cũng có mấy người thành công được. Vì vậy, phổ nhạc cho thơ cũng là một cách sáng tạo nghệ thuật, là hát lại bài thơ theo cách của người nhạc sỹ. Ở khía cạnh này, Phạm Duy đã có những sáng tạo và thành công đặc biệt. Rất nhiều bài hát phổ nhạc của ông đã khiến cho tôi như đang được chứng kiến, được thăng hoa vào những rung động thật của sự việc, của hành động dù cho tôi chưa hề được đọc bài thơ đó từ trước (tôi chỉ được biết nó sau khi đã nghe hết bài hát và tìm hiểu thêm). Tôi cho rằng, phải có một niềm yêu mến thi ca vô cùng, yêu từ trong máu thịt, trong tâm hồn mới khiến ông có thể có những giây phút xuất thần, để rồi tạo nên những giai điệu đẹp da diết như những bài thơ đến vậy. Phổ nhạc cho thơ cũng là một cách tôn vinh và trân trọng Thơ.&lt;/div&gt;&lt;div style="color: purple; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="color: purple; line-height: normal; text-align: justify;"&gt;Để hiểu rõ hơn về những bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc, xin giới thiệu bài viết rất công phu của một cây bút tài hoa, nhà phê bình Đặng Tiến (Pháp), nhân dịp nhạc sỹ thượng thọ 90 tuổi. Cầu chúc cho ông dồi dào sức khỏe và sáng tạo. &lt;span style="font-family: inherit;"&gt;Xin mượn mấy câu cuối bài viết: &lt;/span&gt;&lt;i style="font-family: inherit;"&gt;"&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;i&gt;Nhạc Phạm Duy là một mảng ký ức văn học. Nhạc phổ Thơ của Phạm Duy là âm vangcủa thời đại qua thi ca. Cũng là âm vang của thi ca qua thờiđại." &lt;/i&gt;để làm lời tâm tình với ông, người nghệ sỹ mà tôi trân trọng...&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;---------------------------------------------------&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Bộ môn Thơ đang lùi bước trong xãhội hiện đại. Đời sống đô thị nhanh bước theo nhịp tiến hóa của công nghiệp,đẩy lùi biên độ của thơ&amp;nbsp;: kỹ thuật hiện đại cung cấp cho quần chúng - nhấtlà thanh niên - những phương tiện giải trí và truyền thông hấp dẫn và nhanhchóng hơn những bài bản vần vè trước đây - dù sao cũng gắn liền với nếp sốngnông thôn.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhưng chất thơ lại là một phẩm chấtkhác của đời sống, không chỉ nhắm giải trí, nó tiềm ẩn trong tâm linh&amp;nbsp;; nónằm dưới, nằm ngoài vần điệu. Và cần yếu cho con người mọi sắc tộc và thời đại.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Chất thay thế, hay bù đắp cho sựthất thoát của thi ca là ca khúc. Trong nghệ thuật âm nhạc, theo bén gót kỹthuật hiện đại, ca khúc chuyển mình theo những dạng thức khác nhau. Âu cũng là điều hợp lý. Thoạt kỳthủy nước nào cũng vậy, thi ca bắt đầu từ hát xướng, trong tín ngưỡng, tôngiáo, giữa cung đình hay nơi công trường lao động.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Bản lề giữa hiện tượng «&amp;nbsp;thơnhạc giao duyên&amp;nbsp;» ấy là những bài thơ được phổ nhạc, trở thành nhạc phẩmcó giá trị tự tại. Việc phổ nhạc vào thơ làm giàu cho thơ, cho nhạc và tâm hồnngười nghe. Và tại Việt Nam, có lẽ người có công đầu là Phạm Duy. Từ &lt;i&gt;Cô háimơ&lt;/i&gt;, thơ Nguyễn Bính, 1942, đến &lt;i&gt;Bên kia sông Đuống&lt;/i&gt;, thơ Hoàng Cầm2010, anh đã phổ nhạc trên dưới 300 bài thơ.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Làm việc miệt mài, hiện nay Phạm Duyở tuổi 90, đang hăng say sáng tác và hoàn tất một đĩa CD phổ nhạc thơ Bích Khê.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Trong quá trình 70 năm phổ nhạc, từnhững bài thơ kinh điển - mà chưa chắc đã nhiều người biết hay còn nhớ - từnhiều bài &lt;i&gt;Thơ Hàn Mạc Tử&lt;/i&gt;, nối kết thành trường ca, đến &lt;i&gt;Màu thời gian&lt;/i&gt;,1940, của Đoàn Phú Tứ&amp;nbsp;: …&lt;i&gt;Ngàn trùng e lệ&lt;/i&gt; &lt;i&gt;phụng quân vương…&lt;/i&gt;(Phạm Duy 1985) đến tiếng khóc não nùng trong &lt;i&gt;Tưởng như còn người yêu&lt;/i&gt;,1971 của Lê thị Ý&amp;nbsp;: &lt;i&gt;Ngày mai đi nhận xác chồng…&lt;/i&gt;&amp;nbsp;; những bàithơ được chọn phổ nhạc trong những điều kiện lịch sử và tâm lý khác nhau, cókhi vì những động cơ riêng, do đó đến và ở lại với những mảng quần chúng khácnhau, khoanh vùng trong những thời điểm, địa phương, thế hệ khác nhau. Nói vềnhạc Phạm Duy chung chung, đã là việc khó. Nói về nhạc phổ thơ của Phạm Duy cònkhó hơn vì phải vượt qua ba cửa ải&amp;nbsp;: quan niệm về thơ, sở thích về nhạc vàý kiến về… Phạm Duy.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Lấy ví dụ mới đây, bài &lt;i&gt;Bên kiasông Đuống&lt;/i&gt; được Phạm Duy phổ nhạc khi tác giả Hoàng Cầm tuổi cao và trọngbệnh&amp;nbsp;; Phạm Duy sáng tác mong bạn mình được nghe trước khi qua đời, đầunăm 2010. Nhưng không kịp. Như vậy, về mặt tâm cảm, nhạc phẩm có giá trị cao,thậm chí thiêng liêng. Phạm Duy tận dụng nhạc thuật và tâm huyết để tôn vinhtác phẩm của bạn, do đó theo sát câu chữ của văn bản – và những điều kiện lịchsử đã tạo ra văn bản. Nhưng người nghe không phải ai ai cũng nghe ra&amp;nbsp;! Vàngười nhạc sĩ già sau 70 năm dày gió dạn sương, không khỏi hoang mang.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Để giải thích và giải tỏa hiện tượngnày, Eric Henry, một người Mỹ sành âm nhạc, trong một bài báo ngày 5/8/2010,trên mạng, sau khi đánh giá cao tác phẩm dài 10 phút, đã viết&amp;nbsp;: một cakhúc phổ biến (hay đại chúng, popular song) bao giờ cũng có phần giới thiệutoàn bộ các giai điệu và nhạc khí (interlude), thêm phầm điệp khúc, hát lạigiai điệu chính. &lt;i&gt;Bên kia sông Đuống&lt;/i&gt; là ngoại lệ&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Từ những phân tích nhạc thuật chínhxác, tác giả Eric Henry đã đưa ra một nhận xét tâm lý&amp;nbsp;: quần chúng thíchmột ca khúc khi «&amp;nbsp;sở hữu&amp;nbsp;» được một giai điệu, để có thể hát thầm hayhát nhẩm, ví dụ bài &lt;i&gt;Tiễn em&lt;/i&gt; (Cung Trầm Tưởng - Phạm Duy, 1958)&amp;nbsp;: &lt;i&gt;Lênxe tiễn em đi / chưa bao giờ buồn thế&lt;/i&gt;. Thơ không xuất sắc và nhạc cũngthường thôi, nhưng người nghe tâm đắc vì «&amp;nbsp;sở hữu&amp;nbsp;». Nghiệm cho cùng,ở đời, yêu cái gì hay yêu ai, trên hết, và cuối cùng, là yêu mình trước đã.Ngoài đề).&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Bài thơ &lt;i&gt;Bên kia sông Đuống&lt;/i&gt; làmột ví dụ có vị thế đặc biệt&amp;nbsp;: không phải ai ai cũng thích toàn văn, vớinội dung lịch sử, chính trị của nó. Về nghệ thuật, nó không đủ dài để làmtrường ca&amp;nbsp;; không đủ ngắn để được ghi nhớ như một tác phẩm trữ tình. Nókhông đủ sắc bén để làm vũ khí, và không có cái sâu lắng để làm một bài thơtình tự. Người đọc thích và nhớ từng câu, từng đoạn&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;TranhĐông Hồ gà lợn nét tươi trong&lt;br /&gt;Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp...&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhưng câu thơ này chỉ hay trong toàncảnh bài thơ. Như &lt;i&gt;Ao thu lạnh lẽo nước trong veo&lt;/i&gt;, nổi tiếng nhất củaNguyễn Khuyến, chỉ hay trong toàn cảnh bài &lt;i&gt;Thu điếu&lt;/i&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhữngcô hàng xén răng đen&lt;br /&gt;Cười như mùa thu tỏa nắng&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-TFuvQyJFHwE/TpdC-VC_R4I/AAAAAAAAArE/_30KK41xZ2g/s1600/7068.jpg" imageanchor="1" style="clear: left; float: left; margin-bottom: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" src="http://1.bp.blogspot.com/-TFuvQyJFHwE/TpdC-VC_R4I/AAAAAAAAArE/_30KK41xZ2g/s1600/7068.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Cũng vậy. Người nghe nhạc phẩm &lt;i&gt;Bênkia sông Đuống&lt;/i&gt; chờ đợi âm vang đặc biệt ở những câu mà họ đã «&amp;nbsp;sởhữu&amp;nbsp;» từ vài ba mươi năm, và Phạm Duy đã không thể ưu đãi, như anh đãluyến láy câu &lt;i&gt;Mai Châu mùa em thơm nếp xôi&lt;/i&gt;, trong bài &lt;i&gt;Tây Tiến&lt;/i&gt; màanh phổ thơ Quang Dũng, trong một tâm lý khác. Tâm lý là yếu tố quan trọng, điềukiện hóa sáng tạo nghệ thuật, điều này ai cũng biết. Trong một ngoại cảnh lịchsử, trước một bài thơ cụ thể, của một tác giả nổi tiếng hay chưa, quen biết haykhông, rung cảm của nhạc sĩ phải có khác. Phạm Duy trong 70 năm phổ nhạc chohằng trăm tác giả khác nhau là một thực nghiệm cho điều đó.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Bên kia sông Đuống&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt; được phổ nhạc trong tình cảm đặc biệt của Phạm Duy đối vớiHoàng Cầm có đặc tính riêng, nên nhạc sĩ đã phải đề xuất một thể lọai nhạc mới,anh gọi là rhapsody - &lt;i&gt;trường khúc tự do&lt;/i&gt;, (anh dịch chữ rhapsody) vượt ranhững khuôn khổ quy định để tôn vinh văn bản bằng nhiều tiểu khúc đa dạng,chẳng khác tiếng đàn Thúy Kiều, có khi &lt;i&gt;đầm ấm dương hòa,&lt;/i&gt; có khi &lt;i&gt;tiếngsắt tiếng vàng chen nhau&lt;/i&gt;, dựa theo nội dung bài thơ có tính cách lịch sửnhất định – diễn tả giấc mơ thanh bình đối lập với chiến cuộc khốc liệt.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Một độ chênh khác, nhỏ thôi, cũngnên tỏ bày&amp;nbsp;: Hoàng Cầm là nghệ sĩ duy cảm, có lúc duy tâm&amp;nbsp;; Phạm Duylà người duy lý. &lt;i&gt;Bên kia sông Đuống&lt;/i&gt; được sáng tác tháng 4-1948, trongcảm xúc, khi tác giả được tin giặc Pháp tràn vào chiếm làng mình&amp;nbsp;; đượctin lúc nửa khuya Hoàng Cầm xúc động làm một mạch đến gần sáng thì xong bài thơdài, không toan tính, sắp xếp gì. Còn Phạm Duy khi phổ nhạc thì toan tính, &lt;i&gt;suynghĩ bằng âm nhạc về một bài thơ dài&lt;/i&gt;, trong… nửa năm&amp;nbsp;! Có lẽ trongtinh thần duy lý đó, nhiều câu thơ «&amp;nbsp;siêu thực&amp;nbsp;» mà Hoàng Cầm cho là«&amp;nbsp;thần linh&amp;nbsp;», trong &lt;i&gt;Lá Diêu Bông, 1959, &lt;/i&gt;hay&lt;i&gt; Quả Vườn Ổi&lt;/i&gt;,không còn xuất hiện trong lời ca&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;VáyĐình Bảng buông chùng cửa võng…&lt;br /&gt;(…) Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa…&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhưng nói chung, thì Phạm Duy coitrọng văn bản, như với &lt;i&gt;Lá Diêu Bông&lt;/i&gt;, &lt;i&gt;Đạp lùi tinh tú&lt;/i&gt; (&lt;i&gt;Về vớita&lt;/i&gt;, Hoàng Cầm, 1960). Ca khúc &lt;i&gt;Qua Vườn Ổi&lt;/i&gt; khác với bài thơ &lt;i&gt;QuảVườn Ổi&lt;/i&gt;. &lt;i&gt;Cỗ bài Tam Cúc&lt;/i&gt; gần với văn bản &lt;i&gt;Cây Tam Cúc&lt;/i&gt;, 1959,duy nhạc sĩ có thêm một câu&amp;nbsp;: &lt;i&gt;xua tốt điều đè lũ tốt đen&lt;/i&gt; không cótrong văn bản Hoàng Cầm và đã gây tranh cãi. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Những bài này trích từ tập &lt;i&gt;VềKinh Bắc&lt;/i&gt; (1959-1960) Phạm Duy phổ nhạc vào năm 1985 (con số 5 thường đánhdấu những khúc quành trong đời Phạm Duy&amp;nbsp;: 1945, 1955, 1975, 1985, 2005…Ngoài đề)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 36pt;"&gt;*&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Trên 300 bài nhạc phổ thơ thì cònkhoảng 100 bài phổ biến một số bài được truyền tụng, trở thành kinh điển tronglịch sử âm nhạc, khiến nhiều người dọ hỏi «&amp;nbsp;bí quyết&amp;nbsp;» phổ nhạc. Cólúc làm Phạm Duy bực mình, vì «&amp;nbsp;làm nhạc chớ có phải nấu phở đâu&amp;nbsp;».Nhưng có lúc nhạc sĩ vui tính trả lời, như khi đưa ra ví dụ bài &lt;i&gt;Kiếp nào cóyêu nhau&lt;/i&gt;, phổ nhạc thơ Minh Đức Hoài Trinh (1958) và thổ lộ «&amp;nbsp;bíquyết&amp;nbsp;». Lời hát&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: 20.4pt; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Đừngnhìn em nữa anh ơi&amp;nbsp;!&lt;br /&gt;Hoa xanh đã phai rồi, hương trinh đã tan rồi&lt;br /&gt;Đừng nhìn em&amp;nbsp;! Đừng nhìn em nữa anh ơi&amp;nbsp;!&lt;br /&gt;Đôi mi đã buông xuôi, môi nhăn đã quên cười.&lt;br /&gt;Hẳn người thôi đã quên ta&amp;nbsp;!&lt;br /&gt;Trăng Thu gầy đôi bờ, chim bay xứ xa mờ.&lt;br /&gt;Gặp người chăng&amp;nbsp;? Gặp người chăng, nhắn cho ta&lt;br /&gt;Hoa xanh đã bơ vơ, đêm sâu gối ơ thờ.&lt;br /&gt;Kiếp nào có yêu nhau, thì xin tìm đến mai sau&lt;br /&gt;Hoa xanh khi chưa nở, tình xanh khi chưa lo sợ&lt;br /&gt;Bao giờ có yêu nhau, thì xin gạt hết thương đau&lt;br /&gt;Anh đâu anh đâu rồi&amp;nbsp;? Anh đâu anh đâu rồi&amp;nbsp;?&lt;br /&gt;Đừng nhìn nhau nữa anh ơi&amp;nbsp;!&lt;br /&gt;Xa nhau đã xa rồi, quên nhau đã quên rồi&lt;br /&gt;Còn nhìn chi&amp;nbsp;! Còn nhìn chi nữa anh ơi&amp;nbsp;!&lt;br /&gt;Nược mắt đã buông xuôi, theo tiếng hát qua đời.&lt;br /&gt;Đừng nhìn nhau nữa… anh ơi&amp;nbsp;!&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;«&amp;nbsp;Bạn bè yêu nhạc thường hỏitôi về cái gọi là «&amp;nbsp;bí quyết phổ nhạc&amp;nbsp;». Âu là tôi xin phép nữ sĩHoài Trinh cho tôi được in ra sau đây nguyên bản của bài thơ để bạn sosánh&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: 20.4pt; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Anhđừng nhìn em nữa -- Hoa xanh đã phai rồi&lt;br /&gt;Còn nhìn em chi nữa -- Xót lòng nhau mà thôi&lt;br /&gt;Người đã quên ta rồi -- Quên ta rồi hẳn chứ&amp;nbsp;?&lt;br /&gt;Trăng mùa thu gẫy đôi -- Chim nào bay về xứ&amp;nbsp;?&lt;br /&gt;Chim ơi có gặp người -- Nhắn dùm ta vẫn nhớ&lt;br /&gt;Hoa đời phai sắc tươi -- Đêm gối sầu nức nở&lt;br /&gt;Kiếp nào có yêu nhau -- Nhớ tìm khi chưa nở&lt;br /&gt;Hoa xanh tận nghìn sau -- Tình xanh không lo sợ.&lt;br /&gt;Lệ nhòa trên gối trắng -- Anh đâu, anh đâu rồi&amp;nbsp;!&lt;br /&gt;Rượu yêu nồng cay đắng -- Sao cạn mình em thôi&amp;nbsp;!&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Chắc bạn đọc cũng thấy bài thơ phổnhạc được tôi thêm câu, thêm chữ. Phổ nhạc là chấp cánh cho thơ bay cao. Bàithơ ngắn ngủi, cô đọng này, vì có thêm chữ nên không còn tiết vần đều đều, bằngphẳng nữa. Bây giờ nó quay cuồng theo nét nhạc, câu nhạc. Giai điệu của câu«&amp;nbsp;đừng nhìn em nữa anh ơi&amp;nbsp;» chuyển rất đột ngột, đi từ nốt trầm lênnốt cao nhất với hai «&amp;nbsp;nhẩy bực&amp;nbsp;» quãng 5 để diễn tả sự tột độ củatình cảm. Cái syncope sau câu «&amp;nbsp;đừng nhìn em&amp;nbsp;» làm cho mọi người thấyđược sự nghẹn ngào của bài thơ và bài hát&amp;nbsp;»&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote1anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;1&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;(Ngoài đề&amp;nbsp;: câu hương trinh đãphai rồi, Phạm Duy thêm vào, là…hóm)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-bOcw7MiIWMo/TpdDDTwdqVI/AAAAAAAAArU/lsGbHve-G0I/s1600/gallery05.jpg" imageanchor="1" style="clear: right; float: right; margin-bottom: 1em; margin-left: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="230" src="http://2.bp.blogspot.com/-bOcw7MiIWMo/TpdDDTwdqVI/AAAAAAAAArU/lsGbHve-G0I/s320/gallery05.jpg" width="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nói thêm cho rõ&amp;nbsp;: ca khúc gồm154 chữ, dài gấp rưỡi bản gốc. Bản gốc là thơ năm chữ theo luật thi, nhịplẻ&amp;nbsp;; ca từ nhịp chẵn 6-10 theo sườn lục bát vần lưng kết hợp với vầnchân&amp;nbsp;; hai câu ngũ ngôn trở thành bán cú (hémistiche) cho câu 10 từ vớivần giữa câu. Như vậy, chỉ về âm luật thôi, bài hát đã khác bài thơ. Những câu,những từ, những âm (đừng… đã) luyến láy tạo ý nghĩa mới cho lời thơ – chưa kểnhạc thuật phong phú, tha thiết mang chất bi kịch.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;(Trường hợp tiền lệ tương tự :khi Phạm Duy phổ nhạc bài &lt;i&gt;Thuyền viễn xứ&lt;/i&gt;, 1953, &lt;i&gt;thuyền ơi&lt;/i&gt; &lt;i&gt;viễnxứ xa khơi&lt;/i&gt;…&lt;i&gt;sóng Đà giang&lt;/i&gt;… thơ của Huyền Chi, một cô hàng vải trongchợ Bến Thành, không mấy ai biết đến, anh đã biến nhịp lục bát đơn điệu, tẻnhạt thành những tiết tấu sinh động, tha thiết, phong phú.)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Sau khi xét qua hai ví dụ cụ thể,chúng ta thử đi vào một đề tài sâu hơn&amp;nbsp;: Sự thành hình của một thể loại,qua một nghệ sĩ sáng tác. Phổ nhạc thơ là gì&amp;nbsp;?&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Phạm Duy đã đưa ra định nghĩa, từkinh nghiệm bản thân thời 1940, anh chưa sành nghề&amp;nbsp;: phổ nhạc vào thơ là &lt;i&gt;hátnhững bài thơ đó lên, theo lối của tôi. Tức là tôi phổ nhạc đấy. Tôi chọn 2 bài(của Huy Cận) Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung (Nhớ hờ) Bỗng dưng buồn bã khônggian (Thu rừng). Hát hai bài thơ trên đây, đối với tôi là sự tập tành phổ nhạc.Tôi chỉ thành công 20 năm sau khi tôi phổ nhạc bài Ngậm ngùi.&lt;/i&gt; &lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote2anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;2&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhưng sao Phạm Duy chưa phổ nhạc haibài kia (thay vì đặt nhạc cho vô số bài thơ vớ va vớ vẩn)&amp;nbsp;; phải chăng anhchưa tìm ra được âm giai phù hợp, hay nhạc điệu khác với, thậm chí hay hơn,tiết tấu sẵn có của hai nguyên bản&amp;nbsp;? Phạm Duy rất thích bài &lt;i&gt;Tràng giang&lt;/i&gt;,nhưng thay vì phổ nhạc, anh vinh danh bằng cách khác, như sáng tác &lt;i&gt;Chiều vềtrên sông,&amp;nbsp; «&amp;nbsp;để vinh danh bài thơ Tràng giang là bài thơ đã ám ảnhtôi từ lâu &lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote3anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;3&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;.&amp;nbsp;»&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Phạm Duy tâm đắc về bài &lt;i&gt;Ngậmngùi, &lt;/i&gt;phổ nhạc thơ Huy Cận&lt;i&gt;,&lt;/i&gt;và thi sĩ cũng rất hài lòng&lt;i&gt;,&lt;/i&gt; khôngchỉ về nhạc thuật&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;«&amp;nbsp;&lt;i&gt;Nguyên bài thơ đã là mộtgiao lưu giữa thơ Đường và thơ lục bát Việt Nam rồi. Thơ hiện diện từ mấy chụcnăm trước đó, được trở thành nhạc vào lúc Việt Nam bị phân chia, ca khúc Ngậmngùi của Huy Cận - Phạm Duy giao tiếp hai thời thanh bình và khói lửa, gia hòahai nghệ sĩ ở hai miền đối nghịch. Về phương diện thẩm âm, thẩm mỹ, bài đó xưngtụng một cái đẹp sắp sửa mất, đang mất hay sẽ mất, với lời thơ êm ả, bùi ngùi,thương tiếc, với nhạc điệu ôm ấp, vỗ về, an ủi. Hãy trả lại chúng tôi«&amp;nbsp;mộng bình thường&amp;nbsp;» mà có lẽ chúng tôi đã, đang hay sẽ mất. Tôi cốtình dùng hơi «&amp;nbsp;oán&amp;nbsp;» trong bài ca phải nhấn giọng ở chữ«&amp;nbsp;bãi&amp;nbsp;» trong câu «&amp;nbsp;nắng chia nửa bãi chiều rồi&amp;nbsp;», như tahát vọng cổ, nghe không ca sĩ&amp;nbsp;!!!&lt;/i&gt;&amp;nbsp;» &lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote4anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;4&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Công việc phổ nhạc vào thơ, không có«&amp;nbsp;bí quyết&amp;nbsp;», vì không chỉ là việc kỹ thuật, hoặc cảm hứng nhất thời.Nó là sự giao hợp có cội có nguồn sâu xa, nó đẩy sáng tạo nghệ thuật đến nhữngchân trời văn hóa và nhân bản xa hơn.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Thổi hơi nhạc vào lời thơ, là mộtcách &lt;i&gt;Đạp lùi tinh tú&lt;/i&gt;, như một lời thơ Hoàng Cầm mà Phạm Duy đã biếnthành câu hát.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div &amp;quot;times="" 12.0pt;="" align="center" class="MsoNormal" font-family:="" font-size:="" mso-fareast-font-family:="" new="" roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;="" roman&amp;quot;;"="" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Trở lại tuổi hai mươi của Phạm Duy,thời ấy anh chưa là ca sĩ phụ diễn tân nhạc cho gánh cải lương Đức Huy CharlieMiều. Anh chỉ mới hát nhẩm riêng cho mình những bài &lt;i&gt;Nhớ hờ&lt;/i&gt; và &lt;i&gt;Thurừng &lt;/i&gt;của Huy Cận nhưng đã phổ nhạc tài tình bài &lt;i&gt;Cô hái mơ&lt;/i&gt; của NguyễnBính, 1942.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Như vậy, nhạc phẩm đầu tay của PhạmDuy không phải là một độc sáng cá nhân, mà là một đồng tác, một phóng tác, bằngcách phổ nhạc vào một bài thơ ngắn, đơn giản sẵn có. Từ đó, ta có thể suy racung cách sáng tạo của Phạm Duy, là dựa vào một đề tài sẵn có. Sau này anh cónhững nhạc phẩm hoàn toàn tự tạo, có phẩm chất sáng tạo cao. Nhưng các bài nàythường được khởi thảo tự một thực tại nào đó. Điều này là do tâm tánh của PhạmDuy, phản ánh phần nào quan niệm cổ truyền «&amp;nbsp;thuật nhi bất tác&amp;nbsp;». Duychỉ có quan niệm «&amp;nbsp;thuật&amp;nbsp;» thì di chuyển trên một tọa độ rộng rãi.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Một ví dụ cụ thể&amp;nbsp;: truyềnthuyết Trương Chi, đã được Văn Cao sử dụng cùng một thời điểm. Bài Trương Chicủa Văn Cao khá xa câu chuyện cổ&amp;nbsp;: anh Trương Chi chết rồi là thôi, timkhông hóa đá hóa ngọc gì ráo, và dĩ nhiên, không hiện hồn để đòi nợ tình. Anhhát ngang tàng&amp;nbsp;: &lt;i&gt;Ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêngta.&lt;/i&gt; Nghĩa lý gì giọt nước mắt phụ nữ&amp;nbsp;!&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Bài &lt;i&gt;Khối tình Trương Chi&lt;/i&gt;,Phạm Duy làm tại Huế, 1945 – có lẽ sau Văn Cao – theo sát truyện cổ về TrươngChi, thật sự là truyện trong Tình sử của Trung Quốc. Phạm Duy rất cụ thể, thậmchí dung tục&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Taydâng lên một khay&lt;br /&gt;Tim anh Trương Chi là đây&lt;br /&gt;Trong đêm khuya tiệc trà vui bóng gia đình ai&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Để thấy rằng sáng tác Phạm Duy, dùđộc sáng đến đâu, vẫn thường dựa vào thực tại nào đó. Về phương diện này, anhgần với Lê Thương&amp;nbsp;.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Cô hái mơ&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt; là một trong dăm ba thành tựu đầu tiên của dòng âm nhạc cảicách theo cách nói thời đó. Với Phạm Duy nó là «&amp;nbsp;bài thử tựa bàithầy&amp;nbsp;» (coup d’essai, coup de maitre) khiến ngày nay anh còn ngạc nhiên tựphục tài mình và nhắc lại lời khen của một chuyên gia Canada, Georges EtienneGauthier viết trên tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn, 1970, ghi nhận&amp;nbsp;: &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;« &lt;i&gt;ca&amp;nbsp;khúc biểu lộ tất cả sứctưởng tượng và nhạc hứng của chàng nghệ sĩ, tất cả sự táo bạo và coi thường ướclệ của ông. Đoạn nhạc này, với nhạc tính nhanh nhẹn và hơi mạnh mẽ hiển nhiênlà đoạn nhạc của một nhà soạn nhạc có cảm tính trẻ. Nhưng trong trường hợp PhạmDuy, «&amp;nbsp;trẻ&amp;nbsp;» không có nghĩa là vụng về hay do dự, bởi vì cần phải ghinhận lối viết rất vững vàng, lối chuyển câu rất hợp lý, cần nhất là phải ghinhận sự khoái vượt khó của chàng trẻ Phạm Duy. Và những khó khăn ở trong đoạnnày thì vô số&amp;nbsp;: nào là tiết điệu khá phức tạp của nét nhạc, nào là những nhịpngoại (syncopes) và những thanh trình (intervalles) khó hát, những nốt móc kép(double croches) hiểm hóc, những chuyển biến đột ngột từ hơi trưởng qua hơithứ.&amp;nbsp;&lt;/i&gt;» &lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote5anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;5&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Phạm Duy theo sát văn bản, chỉ thayđổi vài chữ cho dễ hát. Nhạc khúc nâng cao lời thơ và ý thơ. Phạm Duy ngạcnhiên về sự chọn lựa tác phẩm và nhiều lần ca ngợi niềm im lặng của cô gái háimơ, đáp ứng lại những mối tình câm nín của tuổi trẻ thời đó. Theo tôi đó là mộtbài thơ hay&amp;nbsp;: nét trong sáng, bình dị của Nguyễn Bính trong bài thơ làmnổi bật thi vị nửa mộng nửa thực qua từ ngữ thuần Việt, trừ tên riêng HươngSơn. Những từ luyến láy đặc sắc vào vị trí ưu thế của câu thơ. Mãi về sau này,1983, Xuân Diệu, trong một bài viết ca ngợi Thế Lữ, mới có dịp đề cao &lt;i&gt;Cô háimơ&lt;/i&gt;, Nguyễn Bính làm 1937&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;«&amp;nbsp;&lt;i&gt;Chính khổ cuối cùng, thứtư, mới là mơ mộng chính cống, mơ mộng tuyệt vời, vì là mơ cho nên chỉ ở trongmộng&amp;nbsp;; Thế Lữ cũng đã từng «&amp;nbsp;ta ôm thiếu nữ trong lòng – Người yêuthoắt biến thành bông hoa rừng&amp;nbsp;», nói là cô hái mơ không trả lời, mà nóitrời đất không trả lời, sự đời không trả lời cũng được, nhưng cái tuổi mơ, cáithế mơ thì cứ mơ…&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Côhái mơ ơi&lt;br /&gt;Chẳng trả lời nhau lấy một lời&lt;br /&gt;Cứ lặng rồi đi rồi khuất bóng&lt;br /&gt;Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi…&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhiều bài thơ Thế Lữ, cùng với bàiCô hái mơ này của Nguyễn Bính, tôi rất trân trọng, vì tôi trân trọng ngườithiếu niên vẫn còn sống ở trong tôi, nó là cái vốn tươi mát, tin tưởng ở trongtôi, và tôi sẽ đem chú ấy theo cho đến hơi thở cuối cùng&amp;nbsp;»&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt; &lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote6anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;6&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Đây là tâm trạng chung của nhiềungười đã trải qua những nghịch cảnh lịch sử. Phạm Duy, đó đây, vẫn nói lên nhucầu ấy, dù rằng về &lt;i&gt;Cô hái mơ&lt;/i&gt; anh không có dịp nói tường tận, rành mạchnhư Xuân Diệu. Năm 2004, phổ nhạc bài &lt;i&gt;Tình sầu (Bốn mùa&lt;/i&gt;) của Huyền Kiêu(làm khoảng 1940) «&amp;nbsp;&lt;i&gt;xuân đến có chàng đến hỏi&lt;/i&gt;…&amp;nbsp;» Phạm Duy cũngmuốn tìm lại «&amp;nbsp;người thiếu niên vẫn còn sống trong tôi&amp;nbsp;» như lời XuânDiệu.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Sau &lt;i&gt;Cô hái mơ&lt;/i&gt;, là nhạc phẩm &lt;i&gt;Tiếngthu&lt;/i&gt; (1945) phổ thơ Lưu Trọng Lư, một bạn thân, Phạm Duy theo sát văn bản,trong một âm giai dìu dặt mênh mông, thê thiết, tôn vinh giá trị bài thơ. Thờikỳ này, nếu Phạm Duy đã ý thức được tài năng, thì dường như chưa nhận định rõràng tầm quan trọng trong việc phổ nhạc vào thơ, nên trong 11 năm anh chỉ phổđược 5 bài, trong đó có &lt;i&gt;Tiếng sáo Thiên Thai&lt;/i&gt; (1952) của Thế Lữ, một đỉnhcao của nghệ thuật ca khúc đuợc phổ biến rộng rãi nhờ ban Hợp ca Thăng long.Thời gian du học ở Pháp (1954-1955), vừa tu nghiệp về nhạc thuật, Phạm Duy đãquan sát xã hội phương Tây và ý thức rõ vai trò của nhạc sĩ Việt Nam, trong bốicảnh xã hội, văn hóa Việt Nam.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;«&amp;nbsp;Khởi sự là một người soạn cakhúc, rồi không hề có một mặc cảm nào cả, tôi cứ mãi mãi là người soạn ca khúcbởi vì sau khi đi học ở Pháp về và nhìn vào tình trạng sinh hoạt âm nhạc ở nướcmình thì tôi thấy không thể đi vào con đường nhạc thuần túy như nhạc cổ điểnTây Phương được. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ rằng nếu tiếp tục soạn ca khúc thì phảithăng hoa nó lên, nghĩa là phải làm sao cho cả hai phần nhạc và lời càng ngàycàng tiến bộ. Nghĩa là vào lúc cuối đời, làm sao nhạc của mình có thể tiến dầntới cõi giao hưởng mà hình như mọi người đều coi là cái đỉnh của nghệ thuật âmthanh và làm sao cho lời ca của mình có thể được cho vào văn học sử.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Ca khúc của tôi, như mọi người đãbiết, về phần lời ca, đa số là do tôi soạn, còn một số là những bài thơ đã nổidanh hay chưa ai biết tới khi được tôi phổ nhạc. Lý do tôi thích phổ thơ cũngrất là giản dị, trước hết, tôi yêu thơ từ ngày còn bé. Lớn lên, tôi có nhiềubạn là thi sĩ làm thơ hay và làm cho tôi càng yêu thơ hơn lên. Cuối cùng, tôicó một người tình rất yêu thơ tiền chiến và làm 300 bài thơ tình tặng tôi.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-Z6ZTh-Bcck4/TpdEDZtRPkI/AAAAAAAAArc/6-aKKSqoU8E/s1600/Pham+Duy.JPG" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="267" src="http://1.bp.blogspot.com/-Z6ZTh-Bcck4/TpdEDZtRPkI/AAAAAAAAArc/6-aKKSqoU8E/s400/Pham+Duy.JPG" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Tại Pháp, một xã hội tiên tiến có nềnvăn hóa vững chắc, quý trọng thơ văn, Phậm Duy đã nhận thức&amp;nbsp;: «&amp;nbsp;&lt;i&gt;Biêngiới giữa ca khúc và thơ gần như không còn nữa. Nhạc còn làm cho thơ (hay lờica cũng vậy) đi nhanh vào lòng người (…) và văn học sử&amp;nbsp;, vì nó đã khôngcòn là một thứ nghệ thuật yếu kém, un art mineur&amp;nbsp;»&lt;/i&gt; &lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote7anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;7&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;.Thờiđiểm này, trên nguỵệt san &lt;i&gt;Thời Mới&lt;/i&gt;, Les temps modernes, tháng 2-1956 họcgiả Georges Mounin, cũng đưa ra một nhận định tương tợ&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Dĩ nhiên, cùng được đào luyện tạiPháp, có những nhạc sĩ chọn con đường khác, như Nguyễn văn Quỳ, đồng lứa vớiPhạm Duy, hay Nguyễn Thiện Đạo, Tôn Thất Tiết, trẻ hơn. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nói là chọn lựa, kỳ thật mỗi nghệ sĩcó cách tiếp thu và sáng tạo theo tạng riêng, không thể đối chiếu.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhận thức rõ về nghiệp vụ khi từPháp về, anh đã liên tục phổ nhạc một loạt non 20 bài thơ nổi tiếng, trong nămnăm, 1958-62 là thời gian xã hội Miền Nam tương đối còn đang ổn định.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;1958 anh phổ 3 bài thơ Lưu Trọng Lư.Nếu ở &lt;i&gt;Tiếng thu&lt;/i&gt;, 1945, anh theo sát câu chữ, nhịp điệu, thì Phạm Duythêm chữ «&lt;i&gt;&amp;nbsp;Vần &amp;nbsp;&lt;/i&gt;»&amp;nbsp;vào tựa đề &lt;i&gt;Thơ sầu Rụng&lt;/i&gt;, và thêmvào câu điệp khúc &lt;i&gt;quay đều quay đều quay đều&lt;/i&gt; gợi âm thanh và động táccủa người và guồng xa dệt lụa, hình ảnh thân thiết một thời gắn liền với bóngdáng người phụ nữ - mẹ, chị hay người em gái. Nhớ thơ Nguyễn Bính&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Víchăng nhớ có như tơ nhỉ&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Em thử quay xem được mấy vòng.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ,&lt;br /&gt;Em thử lào xem được mấy thưng… &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Đến ca khúc &lt;i&gt;Hoa rụng ven sông&lt;/i&gt;,theo bài thơ &lt;i&gt;Còn chi nữa&lt;/i&gt;, thì PD đi xa nguyên tác, gồm thơ ngũ ngôn trừ2 câu bốn chữ. Trong một điệu luân vũ cực kỳ du dương, tràn đầy tiếc nuối, PhạmDuy chủ yếu, sử dụng, luyến láy những câu 4 chữ. Nói cầu kỳ một chút, thì PhạmDuy đã đưa Kinh Thi vào, phá vỡ Đường Thi, đưa tiết điệu lời ăn tiếng nói dângian vào khuôn khổ văn thơ cổ kính, và mở rộng biên cảnh của tình yêu, khôngcòn là «&amp;nbsp;chuyện chúng mình&amp;nbsp;», mà là cảnh phôi pha của trần thế, dạtdào âm sắc, trùng trùng muôn đợt sóng xô giạt vào nhau triền miên không ngớt.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Thú đau thương&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;, từ một bài thơ cùng tên, được Phạm Duy kết hợp với &lt;i&gt;Mộtmùa đông&lt;/i&gt; cũng là một bản tình ca đau buồn da diết. Nhạc đã phụ họa với thơlàm người nghe lịm người trong thú đau thương, nhắc nguyên văn câu thơ LưuTrọng Lư ít người nhớ&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Thuyềnyêu không ghé bến sầu&lt;br /&gt;Như đêm thiếu phụ trên lầu không trăng&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Lưu trọng Lư đã mượn ý từ bài &lt;i&gt;Xuângiang hoa nguyệt dạ&lt;/i&gt; đời Đường của Trương Nhược Hư:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Thùygia kim dạ biên chu tử&lt;br /&gt;Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Dịch&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Thuyềnai đậu bến sông trăng&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt; &lt;i&gt;đó&lt;/i&gt; (mượn thơ Hàn Mạc Tử)&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Trăng sáng lầu ai thương nhớ ai&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Để cùng thấy rằng việc làm thơ, phổnhạc, là việc giao cảm, giao hòa văn hóa sâu xa.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Cùng trong nền Thơ Mới này, Phạm Duycòn phổ nhạc bài thơ &lt;i&gt;Chiều&lt;/i&gt; nổi tiếng của Xuân Diệu, mà anh đổi tên thành&lt;i&gt;Mộ khúc&lt;/i&gt;. Có lẽ để tránh tên một bài thơ Hồ Dzếnh (nguyên có tên là &lt;i&gt;Màumây trên khói&lt;/i&gt;) đã được Dương Thiệu Tước đặt nhạc và phổ biến. Ít khi PhạmDuy đổi một tiêu đề nôm na thành cầu kỳ. Lần này, có lẽ Phạm Duy muốn tạo racảm giác êm ả mong manh của một buổi chiều quê, mà lời thơ Xuân Diệu không tạora được, vì sắc sảo quá, phá tan &lt;i&gt;không gian như có dây&lt;/i&gt; &lt;i&gt;tơ&lt;/i&gt; bằngcâu hỏi từ đầu&amp;nbsp;: &lt;i&gt;không hiểu vì sao..&lt;/i&gt;. Phạm Duy chuyển văn bản XuânDiệu sang một âm giai hiu hiu, êm êm, &lt;i&gt;lòng không sao cả&lt;/i&gt;. Khi chọn tên &lt;i&gt;Mộkhúc&lt;/i&gt; có lẽ Phạm Duy ít nhiều nhớ đến bài Serenata của Toselli mà anh đã đặtlời Việt … &lt;i&gt;nhạc chiều của chúng ta (Chiều tà&lt;/i&gt;, 1943).&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Thời điểm 1960, Phạm Duy phấn khởicó lẽ nhờ thành công rộng rãi khi phổ nhạc thơ Cung Trầm Tưở Roman","serif"; font-size: 12pt;"&amp;gt;Thành tựu dĩ nhiên là do tài năngphổ nhạc Phạm Duy đang độ chín muồi, trước những văn bản đương thời mà anh đồngcảm. Có khi những xê xích lời thơ làm tăng giá trị tác phẩm. Bài &lt;i&gt;Tiễn em&lt;/i&gt;, nguyên tên củaCung Trầm Tưởng là  20x25 cm, in đẹp, trình bày đẹp, là một sáng kiến mới lạ, xưa nayhiếm thấy. Tác phẩm thành công, một phần nhờ đưa ra hình ảnh và những mối tìnhParis, mới mẻ, gợi hiếu kỳ. Quân lực Pháp đã hoàn toàn triệt thoái, nhưng ảnhhưởng văn hóa Pháp – cùng với văn hóa phương Tây – du nhập ào ạt. Bài hát &lt;i&gt;Tiễnem … Ga Lyon đèn vàng&lt;/i&gt;… thịnh hành đến mức độ hàng chục nhạc phẩm khác nhạitheo «&amp;nbsp;&lt;i&gt;cũng lấy chủ đề là sự tiễn đưa nhau ở sân ga&lt;/i&gt;&amp;nbsp;» &lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote9anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;9&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;,dù rằng Miền Nam thời đó, ít sân ga, đường xe lửa không thông suốt.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Thành tựu dĩ nhiên là do tài năngphổ nhạc Phạm Duy đang độ chín muồi, trước những văn bản đương thời mà anh đồngcảm. Có khi những xê xích lời thơ làm tăng giá trị tác phẩm. Bài &lt;i&gt;Tiễn em&lt;/i&gt;, nguyên tên củaCung Trầm Tưởng là &lt;i&gt;Chưa bao giờ buồn thế&lt;/i&gt;, kết thúc&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Trờiem mơ có sao,&lt;br /&gt;Mình anh đêm ở lại&lt;br /&gt;Trời mùa đông Paris&lt;br /&gt;Không bao giờ có sao&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Phạm Duy đã du di&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nơiem có trăng sao&lt;br /&gt;Anh một mình ở lại&lt;br /&gt;Trời mùa đông Paris&lt;br /&gt;Suốt đời thèm trăng soi&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Bây giờ khó có thể nói lời ca hayhơn lời thơ, vì chúng ta quen lời ca hơn, nên chuộng lời ca, theo cái thuyết«&amp;nbsp;sở hữu&amp;nbsp;» của Eric Henry dẫn ở đoạn đầu.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto; mso-outline-level: 3; text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 36pt;"&gt;*&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Muốn làm mới nghệ thuật, một tác giảcần tìm nguồn cảm hứng mới, làm mới rung cảm. Trong tinh thần này Phạm Duy đãtìm đến tác phẩm Phạm Thiên Thư, thời đó là nhà sư dưới pháp danh Tuệ Không(1964-1973). &lt;i&gt;Động hoa vàng&lt;/i&gt;, 1971, là một tập thơ xuất sắc, vần điệu lụcbát theo truyền thống, nhưng lời thơ mới lạ, thoát tục, tài hoa&amp;nbsp;:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Rằngxưa có gã từ quan&lt;br /&gt;Lên non tìm động hoa vàng ngủ say&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Động từ ngủ say thanh thoát, caosiêu. Phạm Duy kèm thêm ý “&lt;i&gt;nhớ nhau&lt;/i&gt;”, đơn giản hơn và hợp với lối kểchuyện của một ca khúc. Vì đã ngủ say rồi thì không thể... hát.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Ngày xưa Hoàng thị&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt; là một ca khúc bình dị, trong ý tưởng và lời hát, trongnhạc điệu dạt dào, thơ mộng :&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Emtan trường về&lt;br /&gt;Anh theo Ngọ về&lt;br /&gt;Trưa trưa chiều chiều&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Ba câu đầu là thơ Phạm thiên Thư,hai câu sau là nhạc sĩ pha chế :&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt; text-align: justify;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Ôicon đường về&lt;br /&gt;Ôi con đường về&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Là tâm sự tiềm ẩn một đời Phạm Duy,sau này, cuối đời, mới vỡ nghĩa và vỡ lẽ.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Sau đó, theo thơ Phạm Thiên Thư, PhạmDuy làm liên tiếp 10 bài &lt;i&gt;Đạo Ca&lt;/i&gt;, mà nhạc sĩ tự đứng ra xuất bản, nhưngkhông mấy thính giả. Quần chúng nghe nhạc là để vui tai và vui chơi, ai đi tìmcon đường “giải thoát” như thiền sư và nhạc sĩ vọng tưởng.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Gần đây, tò mò, tôi có hỏi PhạmThiên Thư về cơ duyên gặp gỡ để hợp tác, anh giải thích là do gợi ý, môi giớicủa Nguyễn Đức Quỳnh, một đàn anh văn nghệ lúc đó tại Sài Gòn, mà Phạm Duy cónhắc đến trong Hồi ký.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhưng nhạc phẩm gây tiếng vang làsáng tác gắn liền với thời điểm lúc ấy là chiến tranh và những đau thương. PhạmDuy phổ nhạc hàng trăm bài thơ trong chủ đề này, nhưng anh thường nhắc lại bài &lt;i&gt;Kỷvật cho em&lt;/i&gt;, phổ thơ Linh Phương &lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="sdfootnote10anc"&gt;&lt;/a&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;10&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;đã gây xúc động lớn thời đó. Phạm Duy tự hào vì thành quả này vì đã có công moira một bài thơ và một tác giả ít người biết, từ một trang nhật báo. Nhưng anhnhớ nhầm, ghi nhầm thời điểm 1968, vì bài này dưới tên &lt;i&gt;Để trả lời một câuhỏi,&lt;/i&gt; Linh Phương làm ngày 20.2.1970, đăng nơi trang trong nhật báo Độc Lập.Nhạc sĩ theo sát văn bản và luyến láy làm nổi bật câu hỏi đầu bài : &lt;i&gt;Em hỏianh bao&lt;/i&gt; &lt;i&gt;giờ trở lại&lt;/i&gt;, thê thiết, não nùng, nhất là qua giọng hát TháiThanh. Câu thơ Linh Phương cũng thường thôi nhưng xoáy sâu vào niềm đau thươngcủa thời đại, tạo cảm giác đặc biệt trong liên tưởng, theo liên văn bản. Nócũng nhắc đến một bài hát Nhật, thời Nhật thuộc (1940) mà Phạm Duy đã hát thờianh chưa vào nghề : &lt;i&gt;Hà nhật quân tái lai&lt;/i&gt; (bao giờ chàng trở lại).1940-1941 là năm “long vỹ xà đầu khởi chiến tranh” ; Phạm Duy tiếp nối xúc cảmvề người thương binh, dòng ca khúc bắt đầu với &lt;i&gt;Nhớ người thương binh&lt;/i&gt;(1947) và &lt;i&gt;Ngày trở về&lt;/i&gt; (1954).&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhắc chuyện cũ, để nhắc lại rằngviệc phổ nhạc vào thơ không chỉ là sở thích hay nhu cầu nhất thời, mà bắt rễ từnhững nguồn cội xa xăm. Có nói cũng không cùng.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Ca khúc là một thể loại nghệ thuậtphù du. Âm nhạc là nghệ thuật của thời gian, nhưng nhạc giao hưởng trường sinhhơn. Có lẽ ca khúc là thời gian trong ngày tháng – thậm chí, giờ phút gắn liềnvời cuộc sống cụ thể trong đời người, trong xã hội, vào một thời điểm nhấtđịnh. Và nó gắn liền với đại chúng.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhìn lại quá trình bảy mươi năm PhạmDuy phổ nhạc vào thơ là nhìn lại những mảnh vụn của cuộc sống, tự thưở &lt;i&gt;hiuhắt lá mơ rơi&lt;/i&gt;, cho đến cô hàng xén &lt;i&gt;cười như mùa thu tỏa nắng&lt;/i&gt;, nhữngngười góa phụ &lt;i&gt;ngày mai đi nhận xác chồng&lt;/i&gt;. Những mảnh vỡ của lịch sử.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Đóng góp của Phạm Duy là đưa bài thơđến người nghe và giữ bài thơ trong ký ức tập thể – một trang rời trong cuốnvăn học sử vô danh. Điều đáng trân trọng trong một xã hội bấp bênh, nơi conngười thường nhớ những điều nhỏ nhặt và rời rạc. Hoặc nhớ những điều mình muốnnhớ.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Không có cách gì chúng ta nghe lạitoàn bộ khoảng 300 bài thơ PhạmDuy đã phổ nhạc – trong đó có những bài khôngphải là hay, tác giả đã phóng tác, vì lý do này nọ, quan trọng nhất là thời sựnhững năm đầu thập niên 1970 tại Miền Nam. Hay những năm ở Mỹ. Nhưng dù sao, nócũng làm tang chứng cho một thời đại, một tâm lý văn hóa đã quá vãng.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nghệ sĩ là một nhân chứng. Trongnghĩa này, nhạc phẩm Phạm Duy là phản ánh của một giai đoạn lịch sử nhiễunhương, một tâm thức giao động.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Riêng về công trình phổ nhạc thơ,thì Phạm Duy đã có những đóng góp lớn lao. Là đã đưa nhiều bài thơ hay về nghệthuật, hoặc có giá trị nhân chứng, đến với quần chúng đông đảo. Và, mặt khác,đã ghi lại nhiều nét trong quá trình phát triển nền thi ca Việt Nam già nửa thếkỷ. Nhạc Phạm Duy là một mảng ký ức văn học.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nhạc phổ Thơ của Phạm Duy là âm vangcủa thời đại qua thi ca.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Cũng là âm vang của thi ca qua thờiđại.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;"&gt;Đặng Tiến&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;--------------------------------------------&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;u&gt;1&lt;/u&gt; Phạm Duy, Hồi Ký 3, tr. 117-119, nxb Phạm Duy Cường, 1991, Hoa Kỳ&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote2" style="text-align: justify;"&gt;&lt;u&gt;2&lt;/u&gt;Phạm Duy, Hồi Ký 1, tr.199-200, nxb Phạp Duy Cường, 1990, Hoa Kỳ.&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote3"&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;u&gt;3&lt;/u&gt;Phạm Duy, Hồi Ký 1, sđd, tr. 369&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote4"&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;u&gt;4&lt;/u&gt;Phạm Duy, Hồi Ký 3, sđd, tr.120&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote5"&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;u&gt;5&lt;/u&gt;Phạm Duy, Hồi Ký 1, sđd, tr. 200&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote6"&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;u&gt;6&lt;/u&gt;Xuân Diệu, Tuyển tập Thế Lữ, tr. 598, nxb Văn Học, 1983, Hà Nội&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote7"&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;u&gt;7&lt;/u&gt;Phạm Duy, &lt;i&gt;Nói về ca khúc và thơ phổ nhạc&lt;/i&gt;, Internet&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote8"&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;u&gt;8&lt;/u&gt;Tình Ca, Sài Gòn, 1959, không ghi nhà xuất bản&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote9"&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;u&gt;9&lt;/u&gt;Phạm Duy&lt;i&gt;, Hồi Ký III&lt;/i&gt;, sđ d, tr.123.&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="sdfootnote10"&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;u&gt;10&lt;/u&gt;Linh Phương , &lt;i&gt;Kỷ Vật cho Em&lt;/i&gt;, Thư Ấn Quán, NewJersey, Hoa Kỳ, tái bản 2008. Xem thêm &lt;i&gt;Thơ Vũ Hữu Định&lt;/i&gt;,tác giả &lt;i&gt;Còn chút gì để Nhớ&lt;/i&gt;, Thư Ấn Quán, 2006. &lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-1490286878063315532?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/1490286878063315532/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=1490286878063315532' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/1490286878063315532'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/1490286878063315532'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/10/pham-duy-tho-pho-nhac.html' title='Phạm Duy: Thơ phổ nhạc'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-3ha-rYKrenI/TpdDCG_X68I/AAAAAAAAArM/M_NwvLUd5BE/s72-c/pham_duy_20110502_1051721719.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-5306871350801820754</id><published>2011-10-08T22:35:00.002+07:00</published><updated>2011-10-09T02:09:19.118+07:00</updated><title type='text'>Chỉ tại dòng sông đa tình</title><content type='html'>&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;Em ơi, đã lâu lắm rồi mình không gặp nhau em nhỉ. Anh vẫn nhớ buổi đầu tiên ấy, lúc mà anh được nghe giọng nói của em qua điện thoại đường dài. Giọng nói của người con gái miền trung. Nhẹ nhàng, ấm áp và rất ngọt ngào. Ngọt như cỏ mật bên dòng sông thanh bình và thơ mộng. Có phải vùng đất đầy cát bụi nắng gió đã là chất dinh dưỡng để tạo nên vẻ đẹp mặn mà của em? Những câu chuyện em kể cho anh nghe về miền quê, về cuộc sống nơi phương xa luôn cuốn hút anh. Bởi nội dung câu chuyện hay vì người kể?... Thế rồi anh chợt biết làm thơ. Từ đôi mắt biêng biếc đa tình của em đó, đôi mắt mà chỉ một chút vô ý của tạo hóa nữa thôi, chắc sẽ biến nó thành  lẳng lơ và tẻ ngắt lắm. Nhiều người sẽ thắc mắc về câu hỏi này: Sao em đẹp đến thế? Riêng anh, đơn giản một điều, là chỉ tại dòng sông đa tình, phải không em...&lt;br /&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;object height="400" width="400"&gt;  &lt;param name="movie" value="http://www.nhaccuatui.com/m/B3mskFN5UG" /&gt;&lt;param name="quality" value="high" /&gt;&lt;param name="wmode" value="transparent" /&gt;&lt;param name="allowscriptaccess" value="always" /&gt;&lt;embed src="http://www.nhaccuatui.com/m/B3mskFN5UG" allowscriptaccess="always" quality="high" wmode="transparent" type="application/x-shockwave-flash" width="400" height="400"&gt;&lt;/embed&gt;&lt;/object&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-5306871350801820754?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/5306871350801820754/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=5306871350801820754' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/5306871350801820754'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/5306871350801820754'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/10/chi-tai-dong-song-tinh.html' title='Chỉ tại dòng sông đa tình'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-3225932987216407133</id><published>2011-10-03T17:48:00.001+07:00</published><updated>2011-10-03T17:59:37.242+07:00</updated><title type='text'>Mắm Tam Quan</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="color: #990000;"&gt;Nước mắm là một đặc sản của những nước nhiệt đới gần biển. Đó là cách bảo quản thực phẩm tài ba và thông minh của cư dân ở những xứ sở này, khi mà chưa hề có công nghệ làm lạnh và kết đông tôm cá và các loại hải sản khác. Tôi không rõ là có bao nhiêu nước trên thế giới có được một món ăn thú vị và tinh tế như nước mắm Việt Nam. Từ bát nước mắm này, nếu mà không có nó thì có biết bao nhiêu món ăn khác sẽ trở nên lạc lõng, vô duyên như một cô gái xuân thì, đoan trang mà trót nói năng, ứng xử vô lối. Cái màu hổ phách óng ả, cái mùi nồng đượm vị biển cả ấy chính là kết tinh của đất trời, của vạn vật để phục vụ cho cuộc sống con người. Có thể có người chê nó là món ăn hạ cấp, là hôi, là bẩn và không muốn sử dụng nó trong nấu nướng hàng ngày. Có người thậm chí còn đưa tay che miệng khi nhìn thấy nó. Thật là đáng tiếc cho những hành động lố bịch, cách nhìn hẹp hòi và nông cạn như vậy. Ẩm thực ở mỗi quốc gia bao giờ cũng khác nhau và đó chính là cái tạo nên sự đa dạng về văn hóa trên toàn cầu. Thành ra, dù ai có chê bai hay khinh bỉ nước mắm, đối với tôi, nó vẫn là thứ nước chấm tuyệt vời nhất, là "quốc hồn" của dân tộc. Nó khiến cho mỗi người dân Việt cảm thấy gần gũi với quê hương mình, thêm yêu non nước mình hơn. Thiếu nó, văn hóa ẩm thực Việt Nam chắc chắn bị khuyết đi một mảng không gì có thể bù đắp được. Vì sao ư? Xin thưa, đó là mắm Tam Quan, các bạn ạ...&lt;/div&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;---------------------------------------------&amp;nbsp; &lt;br /&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-mdwixW4JJBo/TomQlr_xd5I/AAAAAAAAAqo/XO1gql-lbbg/s1600/tamquanbinhdinh.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="276" src="http://2.bp.blogspot.com/-mdwixW4JJBo/TomQlr_xd5I/AAAAAAAAAqo/XO1gql-lbbg/s400/tamquanbinhdinh.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Xứ dừa Tam Quan (Bình Định)&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; mso-margin-bottom-alt: auto; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Tam Quan có dừa là đặcsản: “ &lt;i&gt;Tam Quan bóng mát xanh tươi rừng dừa…ơ hớ hò…&lt;/i&gt;”. Nhưng mắm TamQuan mới là “siêu đặc sản”. Có một lần, cách đây đã 30 năm, thời bao cấp khốnkhó, tôi bị ốm phải vào nằm điều trị tại bệnh viện Qui Nhơn. Tôi nằm cùng phòngvới một bác làm ở ban Thanh tra tỉnh. Hồi đó, khổ thì khổ, nhưng tình người cònchân chất lắm, cứ như nước mắm…30 độ đạm vậy. Một bữa trưa, hai chúng tôi ăncơm tại giường, mỗi người một cà mèn cơm đạm bạc – rất ít đạm và càng ítbạc(tiền) – Đột ngột, như sực nhớ, bác thanh tra mở tủ lấy ra một chai mắm nhonhỏ. Bác cẩn trọng rót mắm ra cái nắp cà mèn, và mời tôi: “&lt;i&gt;Chú ăn chút nướcmắm nhà làm, thử coi&lt;/i&gt;!” Tôi vốn yêu…mắm, yêu tất tần tật các loại mắm luôn,nên không đợi mời lần hai, bèn khẽ khàng múc một thìa nhỏ, nếm thử. Chao ôi, ùavào miệng tôi một mùi vị gì kỳ lạ lắm, cứ như ta đang đứng trước biển, đang cảmnhận hết cái mùi biển giã đặc trưng, tay ta đang chạm vào những cần xé cá cơm,cá nục tươi roi rói nhỏ nhẻ một vị tanh tanh mằm mặn, rồi mùi hương kỳ lạ ấyđưa ta về những gian nhà lợp lá dừa mộc mạc của người làm mắm, với những thùnggỗ đen xạm màu thời gian đang xếp hàng hành quân từ quá khứ tới hôm nay. Nhữngthùng gỗ đựng mắm, gọi là “chượp” này có gì giống với những thùng gỗ sồi màngười phương Tây hay dùng để “muối” rượu cô-nhắc hay uýt-ki nhỉ ? “&lt;i&gt;Mắm TamQuan quê tôi đó&lt;/i&gt;!”, bác thanh tra nói một cách đầy tự hào khi nhìn rõ sự tácđộng nơi “thìa mắm nhà làm” của bác tới kẻ thưởng thức là tôi. Tam Quan ư ?Chợt nhớ, ngày tôi đi xe goòng và “cam-nhông-ray” từ Quảng Ngãi vào Qui Nhơntập kết ra Bắc, thằng bé 8 tuổi là tôi đã mê man thích thú khi xe goòng chạyqua những rừng dừa Tam Quan xanh ngút ngát. Đó là lần đầu tiên tôi được nhìnthấy dừa nhiều như vậy, dừa mọc thành rừng như vậy. Sau này, cứ mỗi khi nghebài hát có câu “&lt;i&gt;Tam Quan bóng mát xanh tươi rừng dừa&lt;/i&gt;” là ùa ra từ ký ứctôi trùng điệp một màu xanh và cái dáng vút cao thanh thoát của những rừng dừalão. Nhưng, kể từ khi xơi “thìa mắm nhà giồng được” tận xứ dừa Tam Quan của nhàbác cán bộ thanh tra, ký ức tôi lại tiếp nhận thêm một mùi hương mới từ xứ này:hương nước mắm. “Ông Hoàng thơ tình” – thi sĩ Xuân Diệu đã có bài thơ ngợi ca“Kinh đô nước mắm Phan Thiết”:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-left: 60pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;“&lt;i&gt;Ôi Phan Thiết tha thiết&lt;br /&gt;Ôi Phan Thiết thiết tha&lt;br /&gt;Kinh đô của nước mắm…&lt;/i&gt;”&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="float: right; margin-left: 1em; text-align: right;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-ry5wQyQ-MNE/TomRfUOp1QI/AAAAAAAAAqs/WLFXjgKZdMU/s1600/761001561_b46c590b7d.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="240" src="http://4.bp.blogspot.com/-ry5wQyQ-MNE/TomRfUOp1QI/AAAAAAAAAqs/WLFXjgKZdMU/s320/761001561_b46c590b7d.jpg" width="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Thùng đựng nước mắm&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Phan Thiết đã có “thương hiệu mắm”từ lâu lắm, nơi đó xứng đáng là “Kinh đô nước mắm”, do số lượng nước mắm sảnxuất tại đây rất lớn, và chất lượng thì ổn định. Nhớ ngày mới giải phóng, trên đườngthiên lý từ Nam ra Bắc, khi xe chạy qua Phan Thiết, đột ngột tôi như ngập vào“một trời nước mắm”: mùi nước mắm đậm đặc trong không gian thành phố, chảy dọctheo con đường cái quan xuyên Việt, hùng hồn khẳng định với du khách cái“character Kinh Đô” của mình. Xuân Diệu đã không quá lời khi tụng ca một “Kinhthành nước mắm” độc đáo dường ấy. Nhưng, nếu Phan Thiết là kinh đô, như Hà Nộilà kinh đô, thì Tam Quan khuất lấp sau những rừng dừa kia lại có thể là “Cố đônước mắm”, như Huế là Cố đô của Việt Nam vậy. Dường như, cố đô hay cựu đôthường có nét gì vừa khiêm nhường vừa kiêu sa mà ẩn dật, cứ “&lt;i&gt;thơm tho aibiết ngát lừng ai hay&lt;/i&gt;”. Nhưng khi nói “cố đô” thì ta ngầm hiểu, đã có thờigian trong lịch sử, nơi đó từng là “kinh đô”. Liệu Tam Quan có từng là “ Kinhđô nước mắm” của Việt Nam hay không, ta cần phải có những chứng liệu khi tìmhiểu. Riêng tôi, khi muốn gọi Tam Quan là “ Cố đô nước mắm” vì với “cái miệngăn mắm ăn muối” của mình, tôi cảm nhận nước mắm Tam Quan ngon hơn hẳn nước mắmPhan Thiết, ngon hơn cả nước mắm Phú Quốc luôn! Có lẽ chú em tôi, một người quêTam Quan nói đúng, nước mắm Tam Quan ngon vì con cá ở đây ngon đặc biệt, hơnhẳn cá ở nhiều vùng biển khác. Chưa kể những rạn san hô ở biển Tam Quan cónhững phù du sinh vật và những rong rêu tảo biển nào, chỉ riêng biển Tam Quanlà nơi mà dòng hải lưu ấm trên đường về phương Nam đã thiết lập một “nhà ga” ởđây, khiến vùng biển này trở nên một vương quốc đặc biệt cho các loài cá sinhsống và phát triển. Có lẽ cá biển Tam Quan được biển “nuôi” tốt hơn cá ở cácvùng biển khác, nên da thịt thơm ngon hơn chăng ? Và khi có “bột” xịn như thế,lại có qui trình “gột nên…nước mắm” bí truyền từ ngàn xưa chuyển giao lại, thìnước mắm và &lt;i&gt;mắm cái &lt;/i&gt;(mắm muối xổi) ở Tam Quan ngon hết chê cũng làchuyện phải đạo.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-lhmwksmU9iI/TomSGEQNgXI/AAAAAAAAAqw/Dpue_PvZ0-w/s1600/mam.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="235" src="http://1.bp.blogspot.com/-lhmwksmU9iI/TomSGEQNgXI/AAAAAAAAAqw/Dpue_PvZ0-w/s320/mam.jpg" width="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: blue;"&gt;Nước mắm đấy...&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Có lần, đi với chú em quê Tam Quanvào Qui Nhơn, trên đường về Quảng Ngãi em đã ghé nhà ở thị trấn Tam Quan lấymấy hộp&lt;i&gt; mắm cái&lt;/i&gt; tặng cho tôi, lại là “mắm nhà giồng được”, khiến tôithêm một lần “choáng” vì hương vị thơm ngon đặc biệt của nó. Với mắm cái, nóithơm cũng được mà… không thơm cũng xong, như kiểu ta ăn sầu riêng, ai biếtthưởng thức thì mới thấy thơm, ai chưa quen ăn lại nghe rất nặng mùi. Gì thìgì, phải gọi hành động tiếp cận mắm Tam Quan là &lt;i&gt;thưởng thức&lt;/i&gt; mới xứng vớiloại &lt;i&gt;mắm nước&lt;/i&gt; và&lt;i&gt; mắm cái&lt;/i&gt; tuyệt cú mèo này! Mắm ngon, phải đượcmuối với lòng kiên nhẫn và đựng trong những thùng gỗ có đai, chờ…chín thángmười ngày như người mẹ chờ ngày khai hoa nở nhụy, mới từ tốn “khai hoa” nó raqua một lỗ nhỏ. Mắm ấy gọi là mắm nhỉ, gọi theo qui trình để có nó, nghĩa làmắm “nhỉ ra từng giọt nhỏ”. Mắm ấy thơm nức cứ như vị biển bất ngờ hoà tronghương đồng mùa gặt, như mùi cơm mới quyện với mùi cá kho trong những chiếc trãbằng đất nung mà mẹ vẫn cho ta ăn ngày thơ ấu. Người ta nói kỹ thuật muối mắmlà kỹ thuật đặc biệt của người Chàm, mà những “truyền nhân” hôm nay là ngườiquê miền Trung có phân nửa dòng máu “tiếng trống Baranưng” lăn tăn trong huyếtquản. Có thể như vậy. Nhưng dù bắt nguồn từ người Chàm hay người Việt, thì mắmngon phải bắt nguồn từ…cá ngon. Đây chủ yếu là cá cơm hay cá nục. Nhiều khingười ta còn muối cả mắm cá trích hay cá mòi, nhưng mắm nục và mắm cơm là phổbiến nhất. Mắm nục cho màu mắm hơi đỏ, vị ngọt, còn mắm cơm cho màu mắm vàngươm, và vị ngọt ẩn dấu thùy mị khiến ta phải thưởng thức nó chầm chậm, kiểungười ta thưởng thức rượu quí, vì ăn nhanh quá thì vị ngọt… trôi tuột mất, khókịp nhận ra. Lạ thế! Hình như, ta sống trong cái “zone” (vùng) nào, hấp thu từkhí trời tới nước ăn và đất ở nơi đó thế nào, thì tính cách ta có những đặctrưng khó trộn lẫn với người ở những “zone” khác thì phải. Người miền Trung, cứphải ớt cay và mắm mặn, nhưng trong vị mặn ấy, ngẫm nghĩ ra lại có vị ngọt đằmthắm, chứ không hề là “mặn chát”, dù giọng nói người miền Trung, nhất là ngườivùng biển nhiều khi khá nặng. Thì “&lt;i&gt;mắm cái&lt;/i&gt;” mà chả nặng ư ? Mùi hươngcủa nó có khi còn “trọng lượng” hơn cả mùi hương hoa sữa mà các nhạc sĩ hay ca ngợiấy chứ! Nhưng chưa thấy nhạc sĩ nào ở ta sáng tác một bài ca về nước mắm, nhấtlà mắm ngon như mắm Tam Quan, nhỉ ?&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;"&gt;Thanh Thảo&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6389171937051565422-3225932987216407133?l=trinhquocdung.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/feeds/3225932987216407133/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6389171937051565422&amp;postID=3225932987216407133' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/3225932987216407133'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6389171937051565422/posts/default/3225932987216407133'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trinhquocdung.blogspot.com/2011/10/mam-tam-quan.html' title='Mắm Tam Quan'/><author><name>Trịnh Quốc Dũng</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_00_g1Eiau_0/S0RuvrC3gTI/AAAAAAAAAZk/ucaCw52358I/S220/DSC_14482.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-mdwixW4JJBo/TomQlr_xd5I/AAAAAAAAAqo/XO1gql-lbbg/s72-c/tamquanbinhdinh.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6389171937051565422.post-933708664951053531</id><published>2011-09-27T15:08:00.002+07:00</published><updated>2011-09-27T15:33:54.930+07:00</updated><title type='text'>Alexandre de Rhodes có phát minh ra chữ Quốc ngữ?</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Ngôn ngữ là một trong những yếu tố nhận dạng quan trọng nhất về sự tồn tại của mỗi quốc gia trên bản đồ thế giới. Ngôn ngữ Việt cũng vậy. Kể từ khi thoát khỏi sự ảnh hưởng của tiếng Hán trong việc viết các ký tự, ngôn ngữ Việt, có thể nói, đã làm một cuộc tiến hóa ngoạn mục với việc tiếp nhận các ký tự La tinh mà sau này trở thành chữ viết chính thức của Việt Nam, chữ Quốc ngữ. Lâu nay ta vẫn thường nghe nói đến công lao của những nhà truyền giáo châu Âu, đặc biệt là Alexandre de Rhodes - một nhà truyền giáo nổi tiếng người Pháp, trong việc phát minh ra chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên, có phải thực sự ông là người duy nhất phát triển hệ thống bảng chữ cái được La tinh hóa không? Hay ông chỉ là một trong những người đồng sáng tạo và phát triển hệ thống chữ viết này? Bài nghiên cứu về vấn đề này sẽ được trình bày dưới đây. Bài viết là của tác giả Alain Guillemin, Viện nghiên cứu xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp. Bản dịch tiếng Việt của Ngô Tự Lập. Chân thành cảm ơn tác giả.&lt;br /&gt;&lt;a name='more'&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;------------------------------------------------&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: 6.0pt; mso-margin-top-alt: auto;"&gt;&lt;b style="color: blue;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 24pt; line-height: 115%;"&gt;ALEXANDREDE RHODES&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style="color: blue;"&gt;&lt;span style="background: none repeat scroll 0% 0% white; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 24pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style="color: blue;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 24pt; line-height: 115%;"&gt;CÓ PHÁT MINH RA CHỮ QUỐC NGỮ?&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-9hhwHoe9n_U/ToGEFTFBk8I/AAAAAAAAAqY/Vr5iWEFtZEw/s1600/Derhodes.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="400" src="http://1.bp.blogspot.com/-9hhwHoe9n_U/ToGEFTFBk8I/AAAAAAAAAqY/Vr5iWEFtZEw/s400/Derhodes.jpg" width="321" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: purple;"&gt;Alexandre de Rhodes (1591-1660)&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: 0.1in; text-align: justify; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;b style="color: blue;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 24pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Tháng5 năm 1941, chính quyền thực dân dựng một đài tưởng niệm tại một góc nhỏ phíaĐông Bắc hồ Hoàn Kiếm, cạnh đền Bà Kiệu. Đó là một tấm bia đá cao 1,7m, rộng1,1m, dày 0,2m, trên có khắc, bằng các thứ chữ Quốc ngữ, Hán và Pháp, công đứccủa linh mục dòng Tên Alexandre de Rhodes. Tin này đượctờ &lt;b&gt;&lt;i&gt;«Tân Tri»,&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; số 13 Tháng 6 năm 1941, thôngbáo như sau: "&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;…ÔngAlexandre de Rhodes đã sống lại với dân Hà Thành trong lễ khánh thành đài kỷniệm ông. Buổi lễ được tổ chức trong bầu không khí trang nghiêm và cảmđộng…Ngày nay, chữ Quốc ngữ được coi là rường cột của tiếng ta, đó là lý do vìsao chúng ta không thể không &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cảm ơn chân thành người đã phát minhra nó, ông Alexandre de Rhodes&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;." &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(&lt;b&gt;&lt;i&gt;Le courrier du Viêt Nam)&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Tuynhiên, sự tôn vinh đối với giáo sĩ dòng Tên nổi tiếng không thể là thứ cây cóthể che rừng. Ngoài Alexandre de Rhodes, điều cần phải làm rõ là vai trò củanhững người truyền giáo đối với ngôn ngữ học. Thật vậy, ở Việt Nam, cũng như ởphần lớn các nước họ đến truyền giáo, họ không chỉ giới hạn vào việc thuyếtgiảng và phiên dịch lời Thiên Chúa. Họ còn lập nên những cột mốc quan trọngkhông thể bỏ qua trong lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Xintrở lại với Alexandre de Rhodes. Ông có "phát minh" chữ Quốc ngữ haykhông? Cho dù vai trò của ông là nổi bật đi chăng nữa, chúng ta cũng phải thấyrằng ông chỉ là một mắt xích trong một sợi xích. Chúng tôi sẽ chứng minh luậnđiểm của mình theo ba phần. Sau khi điểm lại một cách vắn tắt cuộc đời và nhữngchuyến đi của Alexandre de Rhodes, chúng tôi sẽ liệt kê &amp;nbsp;những đóng gópchính của ông qua tác công trình từ điển học cùng vai trò của những người tiềnbối, những linh mục dòng Tên Bồ Đào Nha. Phần thứ ba sẽ phân tích quá trình phổbiến của chữ Quốc ngữ với tư cách một hệ thống ký âm tiếng Việt. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 18pt; line-height: 115%;"&gt;1. Một kẻphiêu du đa ngữ&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;Alexandrede Rhodes sinh tại Avignon, ngày 15 tháng 3 năm 1591, trong gia đình một nhàbuôn tơ lụa gốc gác từ làng Calatayud xứ Aragon. Những ngườiMarranos này chạy trốn Toà án dị giáo và đến tị nạn tại Avignon, khi đó làđất của Giáo Hoàng và tiếp nhận người Do Thái. Giống như nhiều người đứng đầucác gia đình Do Thái cải đạo sang Công giáo, cha của Alexandre đổi họ từ &lt;i&gt;Rueda&lt;/i&gt;thành &lt;i&gt;Rode&lt;/i&gt;, sau thành &lt;i&gt;de Rode&lt;/i&gt; và cuối cùng là &lt;i&gt;de Rhodes&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; Năm 1609, khi 18 tuổi, Alexandre deRhodes đến Roma. Ngày 14 tháng 4 năm 1612 ông gia nhập &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: windowtext; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%; text-decoration: none;"&gt;Compagniede Jésus&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Hội Ái hữuThiên Chúa). Tại &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đó, ông trau dồi kiến thức về các ngôn ngữ cổ (Latin, Hy Lạpvà Do Thái), học tiếng Italia và toán học. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Ôngdự định đi truyền đạo ở Nhật Bản, và tháng 10 năm 1618 rời Roma đến Lisbon, bấygiờ là cửa biển chính vào châu Âu của những người Đông Ấn. Trong khi chờ lênđường, ông học tiếng Bồ Đào Nha. Ngày 04 tháng 4 năm 1619, ông khởi hành trênchiếc tàu "&lt;i&gt;Thánh Thérèse"&lt;/i&gt; để đến Goa. Trong số bốn trăm hànhkhách trên tàu còn có những nhà truyền giáo dòng Tên khác như Jérôme Majorica,tác giả nhiều văn bản Kitô giáo viết bằng chữ Nôm (thứ chữ Việt lấy cảm hứng từchữ tượng hình Trung Quốc), nhà truyền giáo ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Contàu vượt qua mũi Hảo Vọng ngày 20 tháng 7 năm 1619 và đến đảo Goa ngày 9 tháng10 cùng năm. Ở đó, Alexandre de Rhodes được tiếp đón bởi các giáo sĩ dòng Tênđã định cư ở Goa từ khi Francis Xavier cập bến vào năm 1542. Ông lưu lại hainăm rưỡi tại Goa và Salsette, nơi ông bị ốm nặng. Tại đó, ông gặp giáo sĩ dòngTên người Pháp Etienne de la Croix người đã dạy ông ngôn ngữ địa phương: tiếngKanara hay còn gọi là Canarin. Ngày 12 tháng 4 năm 1622, ông lại tiếp tục hảitrình đến Nhật Bản. Ông đến Malacca ngày 28 tháng 7 năm 1622 và phải chờ đợigần chín tháng trước khi lại có thể tiếp tục ra khơi. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Ngaysau khi đến Macao ngày 29 tháng 5 năm 1623, ông bắt đầu học tiếng Nhật. Nhưngdo các cuộc đàn áp Kitô giáo ở Nhật Bản tăng lên và nước này ngày càng bế quantỏa cảng kể từ năm 1612, cấp trên quyết định chuyển ông đến một xứ khác: ĐạiViệt, nơi các cha cố Francesco Buzomi (1576-1639) và Diego Carvalho đã lập mộthội truyền giáo (mission) từ năm 1615 tại Turan (Đà Nẵng). &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Saukhi trải qua 18 tháng giữa Ma Cao và Quảng Đông, de Rhodes cùng năm nhà truyềngiáo dòng Tên khác, trong đó có Gabriel de Matos, cập cảng Faifo (Hội An), mộthải cảng lớn của phần đất mà ông gọi là Cochinchine (Nam Kỳ), ở phía nam Turan.Đây là một trung tâm kinh tế lớn, giao thương với Nhật Bản và Bồ Đào Nha. Ôngđến vào tháng 3 năm 1626 và trong vài tháng đã học tiếng Việt đủ để giảng đạo.Ngày 12 tháng 3 năm 1627, cùng giáo sĩ dòng Tên Pedro Marques, Alexandre deRhodes đến Bắc Bộ. Ông được bề trên cử đi giúp đỡ giáo sĩ dòng Tên người ÝGiuliano Baldinotti vốn gặp khó khăn trong việc học tiếng Việt. Nhà thờ đầutiên ở Bắc Bộ được xây dựng gần Thanh Hóa. Tuy nhiên, việc giảng đạo chẳng baolâu bị gián đoạn vì&amp;nbsp; xung đột, lý do là các nhà truyền giáo phản đối chếđộ đa thê và giới quan lại lan truyền tin đồn rằng họ là gián điệp. Alexandre deRhodes bị quản thúc tại Hà Nội vào tháng Giêng 1630, sau đó bị Chúa TrịnhTráng, dưới áp lực của các vương phi, trục xuất vào tháng 5. Không thể quay lạiNam Kỳ, nơi còn bất lợi hơn đối với các Kitô hữu, bởi họ có thể bị nghi là giánđiệp của Đàng Ngoài, Alexandre de Rhodes trở lại Macao, nơi trong vòng gần 10năm ông dạy thần học luân lý.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Giữa1640 và 1645, de Rhodes dẫn đầu bốn chuyến đi đến Nam Kỳ (từ tháng 1 đến tháng9 năm 1640; từ tháng 12 năm 1640 đến tháng 7 năm 1641; từ tháng 1 năm 1642 đếntháng 9 năm 1643; từ tháng 1 năm 1644 đến tháng 7 năm 1645). Hầu hết thời gian,ông phải làm việc bí mật vì sự thù ghét của chính quyền địa phương. Bị trụcxuất khỏi Nam Kỳ ngày 3 tháng 7 năm 1645, ông đến Macao hai mươi ngày sau đó.Để xin thêm trợ giúp của Tòa Thánh, Hội truyền giáo Châu Á (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Missions d'Asie)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; đề nghịAlexandre de Rhodes đi Roma. Trước khi đi, ông dạy tiếng An Nam cho những ngườikế nhiệm là Carlo della Roca và Metello Sacano. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;RờiMacao ngày 20 tháng 12 năm 1645 cùng một Kitô hữu trẻ người Trung Quốc, mãi đếnngày 27 tháng 6 năm 1649, sau nhiều trắc trở ông mới đến được Roma. Tại Roma,ông mô tả cho Vatican tình hình của Giáo Hội ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ và cầu xinVatican hỗ trợ thành lập hội truyền giáo thuộc &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: windowtext; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%; text-decoration: none;"&gt;Propaganda Fide&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(Cơ quan Tuyên truyền Đức tin). Ông biện hộ cho việc hìnhthành giới giáo sĩ địa phương và vận động bổ nhiệm một giám mục &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: windowtext; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%; text-decoration: none;"&gt;inpartibus&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(giám mục giữa lương dân) &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cho Nam Kỳ và Bắc Kỳ, nhằm đối chọi lại &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: windowtext; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%; text-decoration: none;"&gt;padroado&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;sự bảo hộ)của Bồ Đào Nha đang thống trị ở đó về tôn giáo và chính trị.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Ôngrời Roma ngày 11 tháng 9 năm 1652 với nhiệm vụ do Cơ quan Tuyên truyền giao phólà tìm người và kinh phí cần thiết để hoàn thành sứ mệnh của mình. Ông điPiedmont và Thụy Sĩ, sau đó đến Paris vào tháng 1 năm 1653. Tại đây ông gặp ChaJean Bagot, một giáo sĩ dòng Tên có quan hệ rất rộng trong giới cầm quyền,người từng làm lễ xưng tội cho vua Louis XIV. Ông tuyển mộ trong số các môn đệcủa Cha Bagot một số tình nguyện viên đi Bắc Kỳ và Nam Kỳ, đặc biệt trong đó cóFrançois Pallu, người sẽ là một trong ba &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vicaires apostoliques &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(khâm mạng tòa thánh&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;) đượcGiáo Hoàng bổ nhiệm năm 1658 cho các sứ mệnh ở châu Á, hành động khởi đầu choviệc thành lập &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;MissionsÉtrangères de Paris&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; (MEP, Hội truyền giáo hải ngoại Paris&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Mặt khác, Compagnie duSaint-Sacrement (Hội Ái hữu Saint-Sacrement), được &lt;/span&gt;&lt;span style="color: windowtext; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%; text-decoration: none;"&gt;Anne d'Autriche&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, &lt;/span&gt;&lt;span style="color: windowtext; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%; text-decoration: none;"&gt;SaintVincent de Paul&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;và &lt;/span&gt;&lt;span style="color: windowtext; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%; text-decoration: none;"&gt;Bossuet&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hỗ trợ, cung cấp kinh phí cần thiếtdự án của Alexandre de Rhodes. Nhưng dự án này có nguy cơ gây bất hòa giữa GiáoHoàng, vua Bồ Đào Nha và &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Compagniede Jésus&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Bị thất sủng, ông được gửi đến Ba Tư vào tháng 11 năm1654, nơi ông nhanh chóng học ngôn ngữ địa phương. Ông qua đời tại đây vàotháng 11 năm 1660. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Nhữngchặng dừng chân trên các hành trình là cơ hội để Alexandre de Rhodes học ngoạingữ. Alexandre de Rhodes biết 12-13 thứ tiếng: ngoài tiếng Pháp và tiếngProvencal, những thứ tiếng mẹ đẻ, ông còn biết các thứ tiếng Latin, Hy Lạp,Italia và có lẽ cả tiếng Do Thái, tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Canarin, TrungQuốc, Nhật Bản, Ba Tư và tiếng Việt, tất cả "ông gần như đều thôngthạo." (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Cadière&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, 1915,tr. 239) Alexandre de Rhodes là người khiêm tốn. Đến Việt Nam, ông thú nhận sựlúng túng của mình: "Thú thật là khi tôi đến Nam Kỳ và nghe tiếng nói củangười bản địa, đặc biệt là phụ nữ, tôi cảm thấy như nghe tiếng chim hót líu lovà tôi mất hết hy vọng có ngày học được thứ tiếng ấy." (Alexandre deRhodes, &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Voyages et Missions&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, 1854, tr. 79). Ông khiêm tốn,nhưng thật ra ông có năng khiếu học ngoại ngữ "dễ dàng một cách thầnkỳ." (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Cadière&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, 1915,tr. 239). Ông không chậm trễ trong việc làm chủ thứ tiếng như chim hót líu loấy: "Tôi ghi lòng tạc dạ việc này: Tôi học hàng ngày chăm chỉ hệt nhưtrước đây học thần học ở Roma, và ý Chúa là sau bốn tháng, tôi đã có thể nghehiểu những lời xưng tội, sau sáu tháng, tôi có thể giảng đạo bằng tiếng Nam Kỳ,công việc tôi sẽ tiếp tục làm trong nhiều năm." (Alexandre de Rhodes, &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Voyages et Missions&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, 1854,tr. 67) Như vậy, Cha de Rhodes đã được chuẩn bị "để lần ra, nhận biết,phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khirất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa, trong tiếng An Nam". (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Cadière&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, 1915,tr. 239)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 18pt; line-height: 115%;"&gt;2.Alexandre de Rhodes và chữ quốc ngữ&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;Cáccuốn &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; và &lt;b&gt;&lt;i&gt;“CatechismusPro iis qui volunt suscipere Batismum”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, xuất bản ở Roma năm 1651, trênthực tế, là hai tác phẩm nền tảng và không thể thay thế, đặt cơ sở cho việc kýâm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh và ngoài ra còn cho chúng ta biết được hìnhtrạng tiếng Việt thế kỷ XVII cùng sự tiến hóa của nó. Trong bài viết này chúngtôi chỉ tập trung vào cuốn từ điển. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="float: left; margin-right: 1em; text-align: left;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;img border="0" src="http://3.bp.blogspot.com/-4OtGH7hGsjc/ToGHD5mkPpI/AAAAAAAAAqc/YtERdlGVQZY/s400/L-2360-a_0008_1_t24-C-R0072.jpg" style="margin-left: auto; margin-right: auto;" /&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: purple;"&gt;Tác phẩm của Alexandre de Rhodes&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Alexandrede Rhodes đã soạn cuốn từ điển khi nào? Không nghi ngờ gì nữa, trong những lầnông đến Việt Nam. Nhưng khoảng thời gian bảy năm ông ở xứ này luôn bị ngắtquãng bởi những lần đến rồi đi, từ giã rồi trở lại. Nếu lưu ý thêm rằng ông cònbị thúc bách bởi nhiệm vụ tổ chức truyền đạo và ông thường xuyên phải sống ởtrong trạng thái bí mật hoặc nửa bí mật, một hoàn cảnh rất bất lợi cho côngviệc nghiên cứu ngữ nghĩa học, chúng ta có thể giả định, như Mục sư Bordreuil,rằng có lẽ ông đã làm cuốn từ điển trong thời gian khá dài tại Ma Cao, từ 1630đến 1640: "Mặc dù ông không nói rõ trong các tác phẩm của mình, chúng tôitin rằng Cha de Rhodes đã tận&amp;nbsp; dụng khoảng mười năm yên ổn về tâm trí, nếukhông phải để viết, thì ít nhất cũng là để đặt nền tảng cho hai cuốn sách quantrọng đối với Ki tô hữu An Nam và các nhà truyền giáo, chúng tôi muốn nói đếncuốn giáo lý và cuốn từ điển của ông. " (Bordreuil, tr. 79) Mặt khác, thờigian ở Roma cho phép ông thực hiện thành công việc thu xếp tài chính để xuấtbản tác phẩm của mình.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Cha&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Lèopold Cadière, ng&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ười &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;rất &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;am hiểu vấn đề,&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhấn mạnh&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; vốn hiêubiết tiếng An Nam sâu sắc của ông: "Mọi điều liên quan đến tiếng An Nam,phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Nam Kỳ đều không phải là bí mật đối với ông...Ông còn cho chúng ta biết về thực trạng của tiếng An Nam cổ, những phong tục,tập quán ngày nay không còn và những thông tin mà chúng ta không thể tìm thấy ởbất cứ nơi nào khác... Thêm nữa, về nghĩa của các từ, cuốn sách là một sự đảmbảo tuyệt đối, những khái niệm ngữ pháp ông thêm vào cuốn từ điển cho thấy ônghiểu biết sâu sắc về cấu trúc đôi khi rất phức tạp và tinh tế của cú pháp AnNam" (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Cadière&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, 1915,tr. 238-39)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Cuốn &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Linguae Annamiticae&lt;/i&gt; &lt;i&gt;seuTunchinensis Brevis Declaratio”&lt;/i&gt;,&lt;/b&gt; phần tóm tắt &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ngữ pháptiếng An Nam gồm 31 trang ở cuối, "đưa ra một tổng quan vắn tắt về sự vậnhành của tiếng An Nam. Ông dành 6 trong số 8 chương để bàn đến vấn đề từ loạitrong tiếng Việt." (&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Bref&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; aperçu sur l’histoire de l’étudedes parties du discours vietnamien&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, tr. 143). Các chương này là: &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;-Chữ và âm tiết trong tiếng An Nam (Chương 1)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;-Dấu thanh và các dấu của các nguyên âm (Chương 2) &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;-Danh từ, tính từ và phó từ (chương 3)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;-Đại từ (Chương 4)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;-Các đại từ khác (chương5)&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;-Động từ (Chương 6) &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;-Các thành tố bất biến trong tiếng Việt (Chương 7)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;-Một số thành tố của cú pháp (Chương 8)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Alexandrede Rhodes bám rất sát “thực tiễn ngôn ngữ của người An Nam trong các tầng lớpxã hội khác nhau." (&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="OLE_LINK213"&gt;&lt;/a&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Bref&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; aperçusur l’histoire de l’étude des parties du discours vietnamien&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, tr. 149) Nhưng ông đã ép cú pháptiếng Việt vào cái khuôn khổ cứng nhắc của cú pháp Latinh: "Ta có thể tìmthấy những khái niệm ngữ pháp được sử dụng để mô tả tiếng Latin như cách, thì,thể, số, giống, và các giới từ. Trên thực tế đó là ngữ pháp tiếng Latin mởrộng, với khuôn khổ đã đông cứng từ nhiều thế kỷ, được áp đặt để mô tả một ngônngữ mới. (&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Bref&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; aperçusur l’histoire de l’étude des parties du discours vietnamien&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, tr. 50)Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã phê phán quan điểm này và cho rằng ông khôngcông bằng với các đặc điểm của cú pháp tiếng Việt.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;Đểsoạn cuốn từ điển của mình, có lẽ Alexandre de Rhodes đã dựa vào những côngtrình ký âm Latinh tiếng Nhật (Romanji) đầu tiên của Yajiro, một người Nhật Bảncải đạo giữa thế kỷ XVI, tuy nhiên những tiền bối thực sự của ông là các linhmục dòng Tên người Bồ Đào Nha. Trong thông báo gửi độc giả cuốn từ điển, chínhAlexandre de Rhodes cũng thừa nhận rằng ông chịu ơn những người tiền bối. Ôngnói rằng ông đã làm việc trên cơ sở cuốn từ điển Việt-Bồ Đào Nha của Gaspar deAmaral và cuốn từ điển Bồ Đào Nha-Việt của Antonio Barbosa. Nhưng người thầytrước hết của ông là Francisco de Pina, cũng là một người Bồ Đào Nha. Từ năm1622, Pina đã phát triển một hệ thống ký âm dùng chữ cái áp dụng cho ngữ âm vàthanh điệu tiếng Việt, đã soạn một văn tuyển và bắt đầu viết một cuốn sách ngữpháp (Roland, tr. 37) Năm 1624, Pina mở trường dạy tiếng Việt đầu tiên chongười nước ngoài, hai sinh viên trong số đó là &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Antonio de Fontes &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;và ... Alexandre de Rhodes. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Vìthế, không có gì đáng ngạc nhiên khi các quy ước ký âm của chữ Quốc ngữ chothấy ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha, điều chắc chắn không phải không có liênquan đến thực tế là giữa 1615 và 1788, trong số 145 linh mục dòng Tên tại ViệtNam có 74 người Bồ Đào Nha, trong khi chỉ có 30 người Ý, 5 người Pháp và 4người Tây Ban Nha. Thật vậy, bảng chữ cái tiếng Việt là một sự áp dụng vàotiếng Việt bảng chữ cái được sử dụng trong các ngôn ngữ Roman của những nhàtruyền giáo. Để biểu hiện các thanh điệu, họ sử dụng các ký hiệu trong tiếng HyLạp. Trong bảng ký âm này, Nguyễn Phú Phong, tiếp theo AG Haudricourt, nhấnmạnh ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha. Các phụ âm có nguồn gốc Bồ Đào Nha, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đó là “gi”, “ch”, “x”, “nh”, còn cácnguyên âm, đó là “â”, “ê”, “ô”. (A.G Haudricourt, tr. 61, Nguyễn Phú Phong, tr.13-17)&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Cácnhà truyền giáo dòng Tên người Bồ Đào Nha và Alexandre de Rhodes đã phát triểnhệ thống chữ Việt dùng chữ cái, nhưng điều đó không có nghĩa là họ bỏ qua chữNôm. Hoàn toàn trái lại. Chữ nôm được họ sử dụng rộng rãi để truyền bá phúc âmdưới hình thức giáo lý, Thánh tích, các sách trích lời Thánh. Tên nhà truyềngiáo người Ý Girolamo Majorica xuất hiện dưới 48 công trình khác nhau, tổngcộng 4200 trang &lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="_ftnref1" style="color: black;"&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color: blue; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Trên thực tế, như Jacques Roland đã nhấn mạnh, hệ thốngchữ viết Latinh hóa trước hết là để giảng đạo và phục vụ công việc của nhàtruyền giáo: "Nó cho họ một phương tiện tiếp cận khá thuận tiện với ngônngữ nói; nó cũng cung cấp một phương tiện trao đổi trí tuệ và giao tiếp bằngvăn bản với những giới lãnh đạo người Việt của cộng đồng Kitô hữu, những ngườibuộc phải học thứ chữ mới vì mục đích đó. Tình trạng phổ biến rất hạn chế củachữ Quốc ngữ thay đổi hết sức chậm cho đến giữa thế kỷ XVII. Khi đó, thứ chữviết dùng chữ cái bắt đầu lan ra trong các cộng đồng Kitô giáo, có lẽ vì lý doan toàn đối lại với chính sách chống dị giáo và có lẽ cũng vì dễ sử dụng.(Jacques, tr. 51)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Nhưngtrên thực tế sự sáng tạo chữ Quốc ngữ không chỉ do công sức của các nhà truyềngiáo châu Âu. Họ đã không thể hoàn thành được công việc này nếu không có sựgiúp đỡ của những người Kitô giáo Việt Nam, những giáo lý viên (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;les catéchistes)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, nhữnggiáo hữu (l&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;es frères)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vàtất nhiên, các linh mục&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(les prêtres&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;). Chính họ cũng là những người chúng ta phải chịu ơn với tưcách là tác giả của những tác phẩm văn xuôi đầu tiên ở Việt Nam viết bằng ngônngữ "nôm na" và phiên âm bằng ký tự Latin: &lt;b&gt;&lt;i&gt;Lịch sử An Nam&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;của Bento Thien (1659), &lt;b&gt;&lt;i&gt;Sổ ghi nhớ và chép công việc&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; do nhàtruyền giáo dòng Tên &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;PhilippeBinh&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;viết tại &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Lisbonne&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; (1822).Vai trò quan trọng của các học giả Việt Nam trong toàn bộ công trình ngữ âm họcnày đã bị bỏ qua một cách bất công. Các cộng tác viên bản địa thường không đượcnhắc đến. Chỉ có một vài bằng chứng cho thấy sự hợp tác này. Francisco de Pinađã được giúp đỡ bởi một học giả trẻ người Việt có tên thánh là Pero, một"nhà văn giỏi chữ Hán bậc nhất" (Roland, tr. 3). Alexandre de Rhodesbày tỏ lòng biết ơn bằng những lời cảm động: "Giúp tôi là một cậu bé bảnđịa tuyệt vời, người đã dạy tôi trong ba tuần tất cả các thanh điệu của tiếngViệt và cách phát âm tất cả các từ. Cậu không biết ngôn ngữ của tôi, tôi cũngkhông biết thứ tiếng của cậu, nhưng cậu có một trí thông minh tuyệt vời khiếncậu ngay lập tư&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Cambria Math&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;́&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;c hiểunhững gì tôi định nói. Và trên thực tế, chỉ trong ba tuần ấy, cậu ta đã biếtđọc biết viết thứ chữ của chúng tôi và biết phục vụ thánh lễ. Tôi rất kinh ngạctrước sự lanh lợi và trí nhớ của cậu”. (Alexandre de Rhodes, &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Voyages et Missions&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, 1854,tr. 89) Còn Tổng giám mục Pigneau de Behaine, người đã viết từ điển của mình ởPondicherry, khoảng giữa tháng 6 năm 1772 và tháng 6 năm 1773, thì được sự giúpđỡ của tám học giả Nam Kỳ.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 18pt; line-height: 115%;"&gt;3. Từ Sứmệnh truyền giáo đến sự phổ biến chữ Quốc ngữ&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;Pigneauxde Behaine là thành viên &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;MissionsÉtrangères de Paris&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Trên thực tế, chính các giáo sĩ của Hội truyền giáo hảingoại là những người kế cận các giáo sĩ dòng Tên, tiếp tục phát triển chữ Quốcngữ. Cuốn &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Dictionnarum Annamitico-Latinum”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; của Pigneau deBehaine là cuốn từ điển đầu tiên bao gồm các ký tự Latinh và chữ Nôm không cótrong cuốn từ điển của Alexandre de Rhodes. Bằng cách hợp lý hóa hệ thống phụâm và thanh điệu, ông điều chỉnh, sửa chữa và làm phong phú thêm cuốn từ điểncủa Alexandre de Rhodes. Đức Cha Tabert sử dụng bản viết tay cuốn từ điển củaPigneau de Behaine và cho in năm 1838 tại Serampore, Bengale, dưới nhan đề “&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Dictionarium&amp;nbsp; annamiticolatinum”&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Trongcuốn từ điển này, "sự đóng góp của Đức Cha Tabert không xác định rõđược... chứa khoảng 10.000 mục từ, mô tả chi tiết các nghĩa khác nhau của mỗitừ." (Moussay, tr. 2)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Trongnăm 1868, Cha Legrand de la Liraye cho in cuốn “&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Dictionnaire élémentaireAnnamite-Français”&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; (Từ điển cơ sở An Nam-Pháp). Cuốn từ điển An Nam-La tinhcủa Đức Cha Tabert được chỉnh lý và hoàn thiện bởi Đức Cha Joseph Theurel, khâmmạng tòa thánh (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vicaireapostolique) vùng &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Tây Bắc Kỳ, nhưng ông qua đời vào năm 1868, trước khi hoànthành dự án. Cha Charles Lesserteur hoàn thành nốt công việc và công bố cuốn từđiển tại Nhà xuất bản của &lt;i&gt;Mission de Ke-So&lt;/i&gt;, năm 1877. Cha Génibrel,thành viên MEP, xuất bản cuốn từ điển lớn của ông, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Dictionnaire Annamite-Français”&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; (Từ điểnAn Nam-Pháp) năm 1898. Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1928, nhiều nhà truyền giáothuộc MEP công bố một loạt các cuốn từ vựng nhỏ: như những cuốn của Cha Ravier,Dronet, Pilon, Barbier, Masseron. Năm 1937 xuất hiện cuốn từ điển đồ sộ &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;DictionnaireAnnamite-Chinois-Français&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(T&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ừ điển &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;An Nam-Trung Hoa –Pháp) của Cha Hue, thuộc MEP (Moussay, tr.3) &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Côngtrình từ vựng học của các nhà truyền giáo được tôn vinh bằng việc xuất bản vàonăm 1957 cuốn &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;DictionnaireVietnamien-Chinois-Français &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;của Cha Eugene Gouin. Cuốn từ điểnđược tái bản năm 2002 bởi Nhà &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;YouFeng,&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đến nay vẫn được dùng để tham chiếu, mặc dù các từ điển gần đây nhất đã cậpnhật sự tiến hóa của tiếng Việt viết và nói. Cần phải nhắc thêm các cuốn ngữpháp, các sách và nhiều bài báo nghiên cứu ngữ âm và ngôn ngữ học. Như vậy, nếucác nhà truyền giáo ít dịch tác phẩm văn học, ngoại trừ cổ tích, thì họ đã rèngiũa đa số các công cụ dịch thuật. Ngoài các nhà truyền giáo, chúng ta phảithừa nhận sự đóng góp đáng kể của Georges Cordier, người đã&amp;nbsp; xuất bản vàonăm 1930 cuốn “&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Dictionnaire&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;i&gt;annamite-français à l’usage desélèves et des annamitisants&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;”.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Chữ Quốc ngữ cũng được &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;lọc quacộng đồng Công giáo, vốn có thiên hướng hợp tác với những kẻ chinh phục, đặcbiệt là các tác phẩm của hai học giả lớn, Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) và TrươngVĩnh Ký (1837 - 1898). Huỳnh Tịnh Của, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Ðốc phủ sứ&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; đầu tiêncủa tỉnh, đã dịch các sắc lệnh của chính quyền Sài Gòn ra tiếng Việt, phổ biếnchữ Quốc ngữ trên tờ báo tiếng Việt dùng chữ Quốc ngữ đầu tiên, tờ “&lt;b&gt;&lt;i&gt;GiaĐịnh Báo”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, xuất bản các truyện cổ và thần thoại sưu tầm trong khoảng1880 – 1887 và soạn một cuốn từ điển tiếng Việt, vào năm 1897, phỏng theo từđiển tiếng Pháp. Nhưng một trong những đại kiến trúc sư của sự truyền bá chữQuốc ngữ là Trương Vĩnh Ký. Nổi tiếng là một thiêntài đa ngữ, ông học tiếng Xiêm, tiếng Miến Điện, tiếng Lào, tiếng Cambodia,tiếng Trung Quốc ở Xiêm; học tiếng Nhật, tiếng Hindi, tiếng Hy Lạp, tiếngLatinh, tiếng Bồ Đào Nha, và tiếng Pháp tại Chủng viện P&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;é&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nang, Singapore. Năm 1863, với tưcách là thư ký kiêm thông dịch viên, ông cùng với phái đoàn của Phan Thanh Giảnđến Paris để xin chuộc lại ba tỉnh đã nhượng cho Pháp. Khi trở về, ông được bổnhiệm làm &lt;i&gt;Hiệu trưởng trường thông ngôn&lt;/i&gt; và giáo sư &lt;i&gt;Trường hậu bổ&lt;/i&gt;.Trong số trước tác đồ sộ của con người đa tài ấy - sử gia, nhà tiểu luận nhàchính trị, nhà văn, nhà thơ và dịch giả - chúng ta chú ý trước hết đến cuốnsách ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên do một người Việt viết (1863); cuốn&amp;nbsp; &lt;b&gt;&lt;i&gt;“&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Petit dictionnaire franco-annamite”&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; (Tiểu từđiển Pháp-An Nam); các bản phiên âm Quốc ngữ một số kiệt tác văn học chữ Nôm,như Kim Vân Kiều, Phan Trần, và Lục Vân Tiên; một số tác phẩm tự sự văn xuôi,đặc biệt là “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Đông kinh du ký”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, xuất bản năm 1887. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Vềtiểu thuyết, cũng trong quỹ đạo của Công giáo, ta thấy xuất hiện, "câuchuyện hiện đại đầu tiên khai thác cái tôi, viết bằng văn xuôi, sử dụng chữQuốc ngữ theo lối phương Tây, trong đó mô tả các nhân vật của đương thời vớicuộc sống nội tâm, gia đình và xã hội."&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="_ftnref2" style="color: black;"&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color: blue; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; Đó là “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Truyện Thầy Lazaro Phiền&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;” của NguyễnTrọng Quản, do &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;J.Linage &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1887. Chủ đề, bối cảnh và nhânvật đều liên quan đến Ki tô giáo: nhân vật chính, Lazarô Phiền, trốn tránhtrong cuộc sống tôn giáo sau khi lầm tin vào một lá thư, giết chết cô vợ trẻ vàngười bạn thân nhất của mình&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="_ftnref3"&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color: blue; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;span style="color: black;"&gt;[3]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;Trongnửa đầu của thế kỷ XX sự đóng góp của các tác giả người Việt ngày càng tăng,vượt xa giới Ki tô hữu. Đặc biệt cần phải nhắc đến: Buu-Can,với &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Hán Việt thành ngữ”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (Hà Nội, 1933), Do-van-Dap, với &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từđiển Hán - An Nam”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (Nam Định, 1933), Đào Duy Anh, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“An Nam-Pháp từđiển”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, có chua chữ Hán các thuật ngữ Hán Nôm (Hà Nội, 1936), Long-DienNguyễn Văn Minh, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từ điển điển tích văn học sắp xếp theo bảng chữ cái”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;(Hà Nội, 1941), Hoàng Xuân Hãn, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từ vựng khoa học”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (Sài Gòn,1948); Dao Văn Tien, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từ vựng khoa học”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (Paris, 1945), Đào VănTập, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từ điển tổng hợp Việt Pháp”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (Sài Gòn, 1950), Đào Văn Tập, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từđiển tổng hợp Pháp-Việt Nam” &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;(Sài Gòn, 1950), Lê Bá Kông, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từđiển Anh-Việt”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (Hà Nội, 1950), Lê Bá Kông, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từ điển Việt-Anh”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;(Hà Nội, 1950), Đào Văn Tập, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từ điển tiếng Việt”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (Sài Gòn,1951), Trần Văn Hiệp, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từ điển Trung-Việt”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (1951); Thanh-Nghị, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từđiển Việt-Pháp”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (Sài Gòn, 1952); Dao Dang Vi, &lt;b&gt;&lt;i&gt;“Từ điển Pháp-Việt”&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;(Sài Gòn, 1952). (Moussay, tr. 8) &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Nhữngcông cụ ngôn ngữ học này rất hữu ích cho những kẻ thực dân. Thật vậy, những kẻthực dân có nhu cầu thực tế phải học ngôn ngữ của dân thuộc địa và đào tạothông dịch viên, những người làm trung gian cho họ. Để làm việc này, họ dựa vàocác nhà truyền giáo. Trên thực tế, &lt;i&gt;Trường Thông ngôn Sài Gòn&lt;/i&gt;, mà kể từnăm 1861 đã nhận hàng nghìn học sinh, chỉ là một biến thể của Trường trung họcAdran nơi các nhà truyền giáo&amp;nbsp; giảng dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Latinh chokhoảng 40 học sinh &lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="_ftnref4" style="color: black;"&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color: blue; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;[4]&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Cùng năm đó, tức chỉ ba năm sau sự can thiệp của Pháp,viên sĩ quan hải quân Gabriel Aubaret xuất bản, bằng chữ Quốc ngữ, cuốn &lt;i&gt;Từvựng Pháp-An Nam và An Nam-Pháp,&lt;/i&gt; và sau đó là &lt;i&gt;Ngữ pháp tiếng An Nam&lt;/i&gt;,năm 1867. Tiếng Pháp đã thế chỗ tiếng Latinh, nhưng tính chất công cụ của côngcuộc này vẫn còn nguyên. Trong viễn kiến này, như Paulin Vial, Giám đốc Nội vụNam Kỳ, đã nhấn mạnh, việc sử dụng chữ Hán là một trở ngại cho hoạt động củachính quyền thuộc địa và sự giao tiếp giữa người Pháp và người Việt: “Ngay từnhững ngày đầu, chúng ta đã nhận thấy rằng chữ Hán là một rào cản giữa chúng tavà dân bản địa; việc áp dụng lối viết dùng chữ cái giúp chúng ta hoàn toànthoát khỏi rào cản đó; chữ Hán gây khó khăn cho việc chuyển tải đến người dâncác khái niệm khác nhau cần thiết cho họ, ở mức độ phù hợp với tình hình chínhtrị và xã hội mới."&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="_ftnref5"&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;[5]&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; Ngoài ra, ngày 22 tháng 02, 1869, Chính quyền Nam Kỳ ra mộtnghị định, bắt buộc sử dụng chữ Quốc ngữ trong các văn bản hành chính. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Ngoạitrừ các cơ quan của chính quyền thuộc địa và những người có liên quan bằng cáchnày hay cách khác, chữ Quốc ngữ ban đầu bị người Việt từ chối. Đối với một sốnhà nho yêu nước, đó là chữ của quân xâm lược, tức bọn dã man. Một trong số họ,ông Nguyễn Bá Học (1857-1921), trước khi trở thành một trong những cây bút haynhất của tạp chí &lt;b&gt;&lt;i&gt;Nam Phong&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, trong tình thế buộc phải học chữ Quốcngữ để xin việc, đã trải nghiệm cảm giác xấu hổ: "Nói chung tôi không dámđọc thành tiếng; hễ có khách đến nhà, tôi vội vàng giấu cuốn sách vào túi nhưthể giấu một cuốn sách bí mật, hay sách cấm – đó là cuốn học vần, có bảng 24chữ cái Latin”&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="_ftnref6" style="color: black;"&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;[6].&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="float: right; margin-left: 1em; text-align: right;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;img border="0" height="257" src="http://3.bp.blogspot.com/-_gRt3ZvDIxI/ToGIVBXMtHI/AAAAAAAAAqg/2f_XVnbGwIM/s320/bang-ghep-chu-cai-tieng-viet-vm-01.jpg" style="margin-left: auto; margin-right: auto;" width="320" /&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i style="color: purple;"&gt;Bảng chữ cái tiếng Việt&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Tuynhiên, đến đầu thế kỷ XX, hàng loạt yếu tố đã thúc đẩy những người yêu nướcViệt Nam biến chữ Quốc ngữ thành một công cụ đấu tranh giành độc lập dân tộc.Việc ký kết Hiệp định &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Patenôtre&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; (1884)công nhận quyền cai trị của Pháp trên toàn cõi Việt Nam và cái chết của PhanĐình Phùng (1895) đánh dấu sự kết thúc cuộc kháng chiến của các quan lại triềuđình, dẫn đến sự xuất hiện của một thế hệ các nhà yêu nước mới, trong đó hailãnh tụ là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, những người đã làm quen với tácphẩm của Descartes, Montesquieu, Voltaire và Rousseau qua các bản dịch chữ Hánvà được truyền cảm hứng mới từ Tân thư của các nhà cải cách Trung Hoa như KhangHữu Vi, Lương Khải Siêu.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Việc &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;NhậtBản đánh bại Trung Quốc (năm 1895) và Nga (năm 1905) đã thúc đẩy Phan Bội Châuphát động phong trào "Đông Du”, bí mật đưa sinh viên Việt Nam sang NhậtBản để theo học trong các “trường Tây” của người Nhật. Nhưng sau thỏa thuậnPháp-Nhật, các sinh viên này bị trục xuất. Phan Châu Trinh thì đề cao cácnguyên tắc của Cách mạng Pháp trong cuộc đấu tranh chống thực dân. Hai cụ"Phan" cùng một &amp;nbsp;nhóm nhà Nho, với tinh thần hiện đại hóa và phêpháp Tân Nho giáo - bị coi là phản bội&amp;nbsp; học thuyết của Khổng Tử - mởtrường Đông Kinh Nghĩa Thục vào năm 1907. Trường này dạy miễn phí chữ Quốc ngữvà thúc đẩy việc hiện đại hóa văn hóa Việt Nam. Sau chín tháng tồn tại, trườngbị chính quyền thuộc địa giải thể, những người lãnh đạo, tham gia và ủng hộ bịbắt giam, đặc biệt là bị đày ra Côn Đảo. Nhưng triết lý và phương pháp của trườngđã lan rộng như dầu loang trên cả nước. Từ nay, chữ Quốc ngữ, hiện đại hóa vàđộc lập là không thể tách rời: "Được rửa tội bởi bàn tay của những chí sĩyêu nước, chữ Quốc Ngữ không còn là chữ của họ (tức là của người Pháp, nhữnglinh mục Công giáo), mà trở thành con đẻ của tiếng Việt và từ nay được nhân dânViệt Nam yêu mến và tôn trọng." (Nguyễn Văn Hoàn, tr. 82).&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Chiếnthắng của chữ Quốc ngữ cũng liên quan chặt chẽ tới sự biến mất của chế độ Khoacử ba năm một lần, một cách tuyển dụng quan lại truyền thống của Việt Nam. Từthời Tự Đức, các kỳ thi không còn được tổ chức tại Nam Kỳ. Hai kỳ thi cuối cùngđược tổ chức tại Nam Định (1915) và Huế (1919). Việc xóa bỏ chế độ khoa cửkhông những thúc đẩy sự suy tàn của chữ Hán, mà còn phản ánh một sự thay đổivăn hóa sâu sắc: "Các cuộc thi thơ phú từ đây phải cạnh tranh với cácchương trình học mới, và dần dần mất giá, bởi vì này càng ít có ích lợi để tiếnthân trong xã hội mới." &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(Brocheux,Hémery, tr. 218)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;C&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ác &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhà Nho thức thời &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cũng &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;là những người &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ủng hộ mạnh mẽc&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hữ Quốc ngữ:&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; "&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Đến lượt mình, c&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ác &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhà Nho &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Việt Nam &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cũng coi chữ Quốc ngữ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;như một công cụ&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hữu &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hiệu để phổbiến &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;T&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ư &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tưởng &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;mới, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Sách báo mới &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;và giáo khoamới &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cho dân&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; chúng ... &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Sự tiếp nhận chữ Quốc ngữ đi đôi vớiviệc &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;phổ biến &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;các &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tác phẩm &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;mang tinh thần hiện đại &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;xuất bản &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;với trọng &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;trách &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;và trong &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;khuôn khổ &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;các hoạt động &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;văn hóa và giáodục." (Trịnh Văn Thảo, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tr.&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; 207) &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Tác phẩm nghiên cứu tổng hợp đầutiên về văn minh phương Tây, “Văn Minh Tân học sách”, được xuất bản chính vớilogich như thế&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(Tr&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ị&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nh Văn Thảo, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tr. &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;208)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Việc &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tiếp nhận chữ Quốc ngữ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;của &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;người &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Việt không thểtách rời phong trào &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;xóanạn mù chữ. Th&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;eo David Marr, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;trong khoảng giữa &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;năm 1920 và 1940, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;có &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;88 &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cuốn &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;sách &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;học vần &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;khác nhau đượccông bố&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, tổng cộng &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;364&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; lần in&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;với &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;3&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;,&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;7&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; triệu bản. &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Trích theo Phạm Đán Bình, tr.&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;135) &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Những cuốn sách này &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;không chỉ nhằmphổ biến c&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hữ Quốcngữ, &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;mà còn để chống nạn mù chữ. Năm 1926, theo Georges Garros, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cũng được &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;trích dẫn bởiPh&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ạm Đán &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Bình (&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tr.1&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;35)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, chỉ&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; có &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;20.0&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;00 học sinh &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;trong số &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ba triệu trẻ em&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ở &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;độ tuổi đi học.Năm 1938, để &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;kh&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ắ&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;c &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;p&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hục &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;sự &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;kém cỏi &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;của chính &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;quyền&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;H&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ội&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; truyền bá chữ Quốc ngữ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;được t&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hành lập và đến &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;khoảng năm 1945đ&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ã &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tuyển dụng 1971giáo viên cho 59 827 &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ngườihọc và phân phát &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;175 000 &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cuốn&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;học v&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ần &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;(Ph&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ạm Đán &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Bình, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tr.&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;136) Chiến dịchchống nạn mù chữ đã được p&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;háttriển &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;rộng rãi &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhờ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Mặt trận Cáchmạng&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; (Việt Minh)&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. "Từtháng 9 năm 1945 và tháng 12 năm 1946, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Bình dân học vụ đã &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;huy động 95.665 giảng viên tình nguyệnđể dạy đọc và viết &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cho&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;2.520.678người. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Đến c&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;uối năm 1958, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;c&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ó thể khẳngđịnh rằng 93,4% dân số các vùng đồng bằng, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ở độ tuổi &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;từ 12 đến 50, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đã thoát nạn mù chữ”&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. (Ph&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ạm Đán &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Bình, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tr.&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;136).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Chữ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Quốc ngữ&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, như vậy,&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; đã trở thànhphương tiện&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; chuyênchở của &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hiện đại hóa và bản sắc &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;dân tộc&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;: "&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Một h&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ình ảnh phổ biến &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;trong dân chúng thể hiện cảnh &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Chủ tịch Hồ ChíMinh, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cũng là &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;con một &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhà Nho y&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;êu nước&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, đứng cạnh &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;bảng &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đen, &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;dạy trẻ em nôngthôn đọc và viết &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;chữQuốc ngữ. Chữ Nôm bị xóa dần cho &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đến khi biến mất hoàn toàn, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;còn thứ chữ của &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;những n&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hà &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;truyền giáo vàngười Pháp đã trở thành&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;chữ viết duy nhất của mọi &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;người Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;:&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; "&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;chữ Q&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;uốc &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ngữ”&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Được sử dụngtrong &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;mọi lĩnh &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vực&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, chữ Quốc ngữ đã được tôn vinh nhưlà phương tiện chuyên chở &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ý thức hệ&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;”&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. (Jacques, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tr. &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;51).&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-WS9LOXUghEI/ToGJCHsSzxI/AAAAAAAAAqk/BnyX-iQE6jI/s1600/hanoi_vietnam_10.jpg" style="margin-left: auto; margin-right: auto;"&gt;&lt;img border="0" height="261" src="http://3.bp.blogspot.com/-WS9LOXUghEI/ToGJCHsSzxI/AAAAAAAAAqk/BnyX-iQE6jI/s400/hanoi_vietnam_10.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr style="color: purple;"&gt;&lt;td class="tr-caption" style="text-align: center;"&gt;&lt;i&gt;Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời...&lt;/i&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 18pt; line-height: 115%;"&gt;4. &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 18pt; line-height: 115%;"&gt;Kết &amp;nbsp;luận&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Để kết thúc &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;bài &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;viết &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;này, chúng tahãy trở lại với Alexander của Rhodes và sự &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;công &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhận &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ngày càng tăng của &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;chính quyền Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; về &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vai trò của &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ông&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Thật vậy, saunăm 19&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;4&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;5, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;sự chối &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;bỏ thời kỳthuộc địa &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đã&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; dẫn đến &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;sự phủ nhận sự nghiệp &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;của Alexandrede Rhodes, "&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Sự&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Latinh &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hóa &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;văn bản được &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;coi &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;là một hànhđộng chính trị thù địch, một &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ýđồ phá hủy &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cấu trúc &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vănhóa nhằm &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;chia &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;rẽ&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;văn hóa cộngđồng quốc gia và áp đặt sự thống trị nước ngoài." (Jacques Roland, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tr. &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;24)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;T&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;heo logich n&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ày, đài tưởngniệm Alexander &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;de&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Rhodes đã &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;bị &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;gỡ bỏ:"Thật không may, cá&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;iđài tưởng niệm ấy đ&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ã biến mất &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vào &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;một ngày&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cách đây &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;khoảng ba mươi năm. Ai đ&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ã gỡ nó&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;? Không ai biết! &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Một hành động c&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hính trị h&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ay một sự &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;phá hoại &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đơn thuần&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, bí ẩn &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ấy &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vẫn chưa được &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;sáng tỏ. Vậy đó, tấm &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;bia, mặc dù &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;khá &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;lớn, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đã &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;biến khỏi bệ...Một lần &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;người ta &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhìn thấy &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nó &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tr&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ong một hiệu chữa k&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hóa, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nơi &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nó &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;được dùng làm&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;...đe. Sau đó,một &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhà buôn &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;chè &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;dùng &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nó &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;để bầy hàng&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; – &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;thật&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; tiện để &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;vừa &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;uống &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;trà &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;v&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ừa học!&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; Một số người &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;thậm chí còn &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhìn &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;thấy nó bên bờ sông Hồng…Vào &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;những năm 1980,&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tại khoảng &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;không gian dànhcho Alexandre de Rhodes &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;mọclên &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;một &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tượng đài &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cách mạng trắng&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tinh khôi tuyệt &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đẹp&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, tôn vinh những người yêu nước&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;: ba pho tượng &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;người chiến sĩ cỡ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;lớn&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, một trong số &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đó &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;là &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;phụ nữ. Trênbệ, c&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ó &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;dòng chữ:"&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Quyết tử cho &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Tổ quốc&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; quyết sinh&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;." (&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Le courrier du Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Phải đến &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;năm 1993Alexander de Rhodes &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;mới&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;được phục hồi&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; danh dự&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Năm đó, C&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;âu lạc bộ sử gia đ&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ã tổ chức nóichuyện về Alexander Rhodes&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;và &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Giáo sư Nguyễn Lân đã n&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;hắcđến đài &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tưởng niệm &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;giáo sĩ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;người Pháp. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Theo &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ông, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đáng lẽ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;không nên &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;phá đài kỷ niệm ấy&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;“Le courrier du Viêt Nam” dùng từ«&amp;nbsp;enlèvement” (gỡ bỏ): “H&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ành động này cho thấy một &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhận thức thiển cận, &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;sự thiếu hiểubiết &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;về &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;lịch sử và, dùsao&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; đi chăng nữa&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;cũng &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;không xứng đáng&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;với truyền thống của &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;dân&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; tộc ta&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. Alexandre deRhodes&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, chẳng phải là &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ông &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đã &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;làm việc cho &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;người &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; hay sao&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;? &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Chữ Quốc ngữ, thứ chữ dễ &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;học hơn nhiềuso với chữ tượng hình, đã &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;giúpphần lớn dân chúng &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tiếp cận tri thức và thông tin... Và nhà truyền giáo cũnglà một &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhà &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nhân văn&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; chủ nghĩa&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;, gần &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;gũi với &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;dân&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; chúng&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;." (&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Le courrier du Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Đ&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ã đến lúc trả &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;lại choAlexander de Rhodes không gian &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;kỷniệm tại trung tâm &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;thủ đô &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;nước&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Việt. Giáo sưNguyễn Lân đề xuất để xây dựng một bức tượng bán thân ở công viên Tao Đàn ởphía trước c&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ử&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;a trường Đạihọc Dược Hà Nội. Nhưng cũng có thể &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đặt lại &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tấm bia cũ bây giờ &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đang &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;được lưu trữtrong &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;kho &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;của &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;B&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;an &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;q&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;uản lý các ditích lịch sử và &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;dulịch &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;thủ đô. Năm 1995, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;văn&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; tổ chức mộthội &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;thảo &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;chuyên đề vềcuộc &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đời &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;và &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;sự nghiệp &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;của nhà truyềngiáo &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;người &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Pháp. Trong lờiphát biểu của ông &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;về&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đóng góp của &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;giáo sĩ d&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;òng Tên &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;người Pháp &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tại Việt Nam, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;TS. &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Nguyễn Duy Quýkết luận: "Chúng tôi dự định &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đặt &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;t&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ấm&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;bia cũ trongkhuôn viên Thư viện Quốc gia. Chúng tôi cũng muốn &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;khôi phục &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;lại &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;tên của nhà truyền giáo nổi tiếngcho một đường phố ở&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; Thành phố Hồ Chí Minh &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đã bị đổi tên vài &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;thập kỷ trước.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;.&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. (&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Le courrier du Viêt Nam&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: .5in;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Như vậy, c&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;ông &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;lao của &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Alexandre deRhodes &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;đã &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;được &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;chính quyền Việt Nam &lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;công nhận&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; thỏa đáng&lt;/span&gt;&lt;span lang="VI" style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: 0.1in; text-align: justify; text-indent: 9pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;BIBLIOGRAPHIE&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;I.Ouvrages d’ Alexandre de Rhodes&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;1.&lt;b&gt;Catechismus Pro iis qui volunt suscipere Batismum in octo dies divisus (&lt;/b&gt;Phepgiang tam ngay cho ke muân chiu phep rua, ma be do dao thanh duc Chua bloi),Ope scra Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus? Ab Alexandro deRhodes è Societate IESU ejusdemque Sacrae Congregationis MissionarioApostolico, Romae, Typis Sacrae Congregationis de Propaganda Fide, Superiorumpermissu.s.d. 323 p, Imprimatur, Rome, 8 Juillet 1651.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;2.&lt;b&gt;Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum&lt;/b&gt; ope Sacra Congregationis dePropaganda Fide in lucem editum ab Alexandro de Rhodes&amp;nbsp; E Societate Iesuejusdemqu Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Romae, Typis etsumptibus&amp;nbsp; ejusdem Sacr. Congregat. MDCLI (1651), SuperiorumPermissev,88ff, 450p,&amp;nbsp; deux colonnes +Linguae Annamiticae sev Tunchinensis bevisDeclaratio, pp 1-31, &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;3.&lt;b&gt;Histoire du royaume du Tonkin&lt;/b&gt; par A. de Rhodes, Revue Indochinoise,1908, 2° semestre, 30 juillet, 15 août, 31 août, 15-30 septembre. Traduction deTunchinensis historiae libri duo quorum altero status temporalis huius Regni …,Lyon, 1652.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;4.&lt;b&gt;Voyages et missions du Père Alexandre de Rhodes de la Compagnie de Jésus, enla Chine et autres royaumes de l’orient&lt;/b&gt;. Nouvelle édition par un père de lamême Compagnie (Le Père Auguste Carayon), Paris, Julien Lanier et cie, 1854 ppVII-448.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;II.Dictionnaires et grammaires &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=6389171937051565422" name="_ftnref7" style="color: black;"&gt;&lt;/a&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;[7]&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;1.Pigneau de Behaine Joseph Georges (1741-1799) membre du Séminaire des Missionnairesde Paris, évêque d’Adran, vicaire apostolique de&amp;nbsp; Cochinchine, deCambodge, de Ciampa,&amp;nbsp; &lt;i&gt;Vocabularum annamitico-latinum, &lt;/i&gt;1772, 729 p,Edition en fac-similé du manuscrit original, Documents des Archives desMissions Étrangères de Paris, 2001, 729 p, 34,5 x 24 (Traduction envietnamien&amp;nbsp;: &lt;i&gt;Tu vi Annam Latinh &lt;/i&gt;préfacé par Nguyên Dinh Dâu, ThanhPho Hô Chi Minh, Nha xuât ban Tre, 1999, 574 p, 14 x 20.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;2.Taberd A.L (1794-1840), &lt;i&gt;Dictionnarum annamitico-latinum, primum incetum abP.J Pigneaux, episcopo adranensi, vicario apostolico Cocincinae, dein abslutumet editum a I.L Taberd, episcopo isauropolitano, vicarioapostolico Cocincinae, &lt;/i&gt;Serampore,EX Typis, J.C Marsham, 1838, XLVI, 7322-128 p, 28cm. Réimprimé au Viêt Nam en2004 par le Centre d’études de la culture nationale.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;3&lt;i&gt;.&lt;/i&gt;Aubaret Gabriel&lt;i&gt;, Grammaire annamite, suivie d’un vocabulairefrançais-annamite et annamite-français, &lt;/i&gt;Paris, Imprimerie Impériale, 1867.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;4&lt;i&gt;.&lt;/i&gt;Truong Vinh Ky, Jean Baptiste Petrus, &lt;i&gt;Abrégé de grammaire annamite, &lt;/i&gt;Saïgon,Imprimerie Impériale, 1867. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;5.&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Legrand de la Liraye 1868 &lt;i&gt;Dictionnaireélémentaire Annamite-Français, &lt;/i&gt;Saïgon, Imprimerie Impériale, 184 p. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;6. Theurel, Mgr Joseph, &lt;i&gt;Dictionnarumannamitico-latinum, &lt;/i&gt;ex opere Taberd con tans, nec no ab J.S Theurel, episc,A canthensi, vicario apost, Tunquini occidantalis recognitum et notabileradauctumad quod ac-cessit, Appendix de vocibus sinicis et locutionibus minususitatis, Nin Phu, Ex Typis Missionis Tunquini occidentalis, 1877, XXX-566-71 p&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;6. Truong Vinh Ky,&amp;nbsp; JeanBaptiste Petrus, &lt;i&gt;Grammaire de la langue annamite, &lt;/i&gt;Saïgon,&lt;i&gt; &lt;/i&gt;C.Guillandet Martinon, 1883, 304 p.&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;7.&lt;i&gt; &lt;/i&gt;Truong Vinh Ky, JeanBaptiste Petrus&lt;b&gt;, &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Guide de la conversation annamite. Sách tâp nói chuyên tiêngAnnam vá tiêng Phangsa&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;. 2e édition. Saigon, Ban-in Nhà Hàng C. Guilland etMartinon, 1885. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;8. Truong Vinh Ky, Jean BaptistePetrus &lt;i&gt;Petit dictionnaire franco-annamite, &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Nouvelleédition ornée du portrait de l'auteur illustrée de 1250 gravures extraites duPetit Larousse illustré. Saigon, F.-H. Schneider, 1911 (Première édition,1887).&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;9. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;Huynh Tinh Cua, dit Paulus Cua, &lt;i&gt;Dictionnaireannamite ... Dai nam quâc âm tu vi. Tham dung chu nho có giai nghia, có dan chúng,muon 24 chu cái phuong Tây làm chu bô.&lt;/i&gt; Deux volumes. Saigon, Rey, Curiol&amp;amp; Co., 1895-1896. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;10. Génibrel, J.MF, &lt;i&gt;Dictionnaireannamite-Français comprenant 1°: tous les caractères de la langue annamitevulgaire avec l’indication de leurs divers sens propres et figurés et justifiéspar de nombreux exemples, 2° les caractères chinois nécessaires à l’étude deThu Tho, (=Quatre Livres classiques chinois), 3° la flore et la faune del’Indochine &lt;/i&gt;par JMF Genibrel, missionnaire apostolique, 2° édition refondueet considérablement augmentée, Saïgon, Imprimerie de la Mission à TânDinh,&amp;nbsp; 1898, 987 p.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;11. Hue, Gustave, MEP, 1937 &lt;i&gt;DictionnaireAnnamite-Chinois-Français, &lt;/i&gt;Hanoi, Imprimerie Trung Hoa Thiên Ban, 1937,1199-7 p. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;12. Cordier Georges, &lt;i&gt;Dictionnaireannamite-français à l’usage des élèves et des annamitisants, Hanoi, ImprimerieTonkinoise, 1930, 1433 p.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;13. Gouin Eugène, &lt;i&gt;Dictionnairevietnamien, chinois, français, &lt;/i&gt;Saïgon, Imprimerie d’Extrême-Orient, 1957,réédité en 2002 par les Editions You Feng, en collaboration avec Les IndesSavantes et les Missions Étrangères de Paris. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;III.Ouvrages et articles&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;1&lt;i&gt;.&lt;/i&gt;Bordreuil, Daniel,&amp;nbsp; &lt;i&gt;Etude biographique schématique sur le R&amp;nbsp;.PAlexandre de Rhodes, S.J, (1591-1660) apôtre de l’Annam au XV11ème Siècle, &lt;/i&gt;Thèsede Maîtrise en Théologie soutenue le 8 Avril 1954,&lt;i&gt; &lt;/i&gt;Faculté Libre deThéologie&amp;nbsp; Protestante, d’Aix enProvence.&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;2.«&amp;nbsp;Bref aperçu sur l’histoire de l’étude des parties du discours vietnamien(1ère période), Lê thi Xuyên, Pham Thi Quyên,&amp;nbsp; Do Quang Viêt, Nguyên VanBich, (Université Paris VII, Univerité Nationale de Hanoi), &lt;i&gt;HistoireÉpistémologie Langage&lt;/i&gt;, 2004, pp 137-158.&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;3.Brocheux Pierre, Hémery Daniel, &lt;i&gt;Indochine, la colonisation ambiguë&lt;/i&gt;, Parsis,éditions la découverte, 2004&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;4.Cadière Léopold, Missions Étrangères de Paris, «Les Européens qui ont vu leVieux Hué: le père de Rhodes», &lt;i&gt;Bulletin des Amis du Vieux Hué&lt;/i&gt;, II, 1915,pp 231-250.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;5.Cadière Léopold, «Le Titre divin en annamite. Etude de terminologiechrétienne», &lt;i&gt;Revue d’histoire des missions, &lt;/i&gt;supplément au n°de Décembre1931, pp 1-27.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;6.Cadière Léoplod, «&amp;nbsp;Iconographie du Père de Rhodes&amp;nbsp;», &lt;i&gt;Bulletin desAmis du Vieux Hué&lt;/i&gt;, XXV, 1938, pp 27-62.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;7.Francis, John de, &lt;i&gt;Colonisation an language policy&lt;/i&gt;, La Haye, 1977&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;8.Haudricourt, André Georges, «&amp;nbsp;Origine des particularités de l’alphabetvietnamien&amp;nbsp;», Bulletin Dân Viêt, 3, EFEO, 1949, pp 61-68.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;9.Jacques, Roland, «Le Portugal est la romanisation de la langue vietnamienne.Faut-il réécrire l’histoire», &lt;i&gt;Revue d’histoire de la France d’outre-mer&lt;/i&gt;,T 85, 1998, n° 318, pp 21- 54.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;10.&lt;i&gt;Le courrier du Viêt Nam, &lt;/i&gt;4, Juillet 2004, Hông Nga et Sébastien.&lt;i&gt; &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;11.Moussay Gérard, Les dictionnaires vietnamiens du XVIIème au XXIéme siècle,Texte inédit aimablement communiqué par l’auteur, 8 p.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;12.Nguyên Phu Phong, «Regards comparatifs sur les deux écritures vietnamiennes»,Cahiers d’études vietnamiennes, 15, 2001, pp 1-22. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;13.Nguyên Van Hoan, «Le quôc ngu, nouvel instrument de la langue vietnamienne», &lt;i&gt;ApprochesAsie&lt;/i&gt;, n° 7, Mars 1984, pp 70-88) &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;14.Phan Dan Binh, «Romanisation de l’écriture et alphabétisation au Viêt Nam.Bilan et problèmes», in &lt;i&gt;Illetrismes: variations historiques etanthropologiques&lt;/i&gt;, sous la direction de Bernard Frankael, Paris, BPI, CentreGeorges Pompidou, 1993, pp 125-137.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;15.«Souvenir d’ Alexandre de Rhodes (1591-166)», 37ème cahier de la Société degéographie de Hanoi, Hanoi, G.Taupin, 1941, tirage à part du n°41 de larevue&amp;nbsp;&lt;i&gt;Indochine&lt;/i&gt;,&amp;nbsp; spécialement réimprimé par les Amis du VieuxHanoi et les membres du Comité du Monument d’Alexandre de Rhodes, 15p.Cfnotamment les articles suivants: R.Bourgeois, &lt;i&gt;Alexandre de Rhodes&lt;/i&gt;, pp3-5, P.Boudet&lt;i&gt;, Les œuvres du R.P Alexandre de Rhodes&lt;/i&gt;, pp 6-8, Nguyên VanTô, &lt;i&gt;Le père Alexandre de Rhodes et la transcription de Quôc Ngu&lt;/i&gt;, pp9-10. de Francis, &lt;i&gt;Colonisation and language policy, &lt;/i&gt;La Haye, 1977.&lt;i&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt; line-height: 115%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="margin-bottom: .1in; text-align: justify; text-indent: 9.0pt;"&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.5pt; line-height: 115%;"&gt;16.Trinh Van Tha
