Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Vài kỷ niệm về ngày nhà giáo



“Đò ai chở khách sang sông
Tình còn trở lại hay không hỡi người
Đò tôi tình của một đời
Bến thương neo đậu tình người đi xa”
Không biết tự bao giờ, hình ảnh những người thầy giáo, cô giáo lại được ví với người lái đò thầm lặng. Điều này có lẽ xuất phát từ đặc thù của nghề giáo. Đó là truyền thụ kiến thức cho những thế hệ học sinh, để rồi mai này họ hòa mình với dòng đời nhiều vần xoay của tạo hóa. Những học trò thân yêu đó cứ thế, hết lớp này đến lớp khác, năm này qua năm khác, bao gương mặt cũ qua đi, bao gương mặt mới lại đến… Giống như những khách qua đò. Như những đợt sóng của bao la biển cả. Còn người lái đò thì vẫn cặm cụi bên bến sông thanh bình, với công việc thường ngày của mình, để làm “nhịp cầu nối những bờ vui” cho mọi người.

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Bến xuân

Bài hát Bến xuân. Lời và nhạc: Văn Cao - Phạm Duy

Văn Cao là một trong những nghệ sỹ tài hoa nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông là tác giả của Tiến quân ca, quốc ca của nước Việt. Những ca khúc khác của ông như: Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ là những bản tình ca đi cùng năm tháng. Trường ca sông Lô là một bản hùng ca, được xếp vào hàng kinh điển trong nền âm nhạc Việt Nam. Ông cũng là một nhà thơ với những câu thơ thật tài hoa “Từ trời xanh/ rơi/vài giọt Tháp Chàm” và thật đắng đót “có lúc/ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt/có lúc/nước mắt không thể chảy ra ngoài được”. Ông còn là một họa sỹ đã từng có triển lãm tranh sơn dầu từ rất sớm tại Hà Nội.

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

"Khúc hát sông quê" - Nhịp đập của những trái tim tha hương

Nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo

Nhà thơ Lê Huy Mậu

Người làm bài hát bao giờ cũng mong ước có nhiều người hát. Về điểm này tôi thấy gần đây ca khúc “ Khúc hát sông quê” của nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một minh chứng . Quá nửa đời phiêu dạt / con lại về úp mặt vào sông quê / ơi con sông dạt dào như lòng mẹ …Âm nhạc đã dắt lời thơ đi vào lòng người và ở lại đó, lay động xao xuyến . Nhất là đối với người tha hương lâu ngày. Mà thời buổi hiện đại này ai mà chẳng là người tha hương ? Ai mà chẳng có tuổi thơ ngóng mẹ chợ về với xu bánh đa vừng nơi bến sông thân thuộc. Có lẽ vì thế mà ai cũng tìm thấy mình trong từng nét nhạc, lời ca. Đi Nam về Bắc, tôi thấy ba bốn năm nay không có bài hát nào đạt đến sự mê say “phổ cập” như vậy. Cũng như mọi người, cả nhà tôi đều mê hát Khúc hát sông quê

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

"Giải mã" bài ca dao Thằng Bờm

"Thằng Bờm có cái quạt mo...", có lẽ bất cứ người dân Việt nào đều biết đến bài ca dao vui vẻ và tinh nghịch này. Ngay cả đến nhân vật Bờm trong bài ca dao (dù rất ngắn, chỉ 10 câu thơ) cũng "đi" vào đời sống nhân dân và trong phim ảnh. Chẳng hạn, khi muốn chê bai một ai đó làm những việc ngớ ngẩn và vô nghĩa, người ta thường nói: "Đúng là Bờm", "Bờm thế"...Điều đó cũng thể hiện sức ảnh hưởng dài lâu và một cách hiểu rất phổ biến của đa số mọi người về bài thơ này. Tuy nhiên, với trí tuệ uyên bác nhưng cũng không kém phần hóm hỉnh của những "người sáng tạo" dân gian, có phải bài ca dao và các hình ảnh trong đó chỉ mang một ý nghĩa đơn giản và dễ đoán định như trên không? Hay là nó còn mang những tầng ý nghĩa khác, thâm thúy và sâu xa hơn nhiều? Mời các bạn hãy xem tác giả Nguyễn Trọng Bình "giải mã" bài ca dao đáng yêu này nhé. Bài đã đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay. Xin cảm ơn tác giả Nguyễn Trọng Bình (Cần Thơ).

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Dạ cảm


(Viết trong một đêm mất ngủ)
Lang thang đêm cuối manh rèm
Mùa trăng trót dại êm đềm dạ thưa

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

Phạm Duy: Thơ phổ nhạc

Phạm Duy - tranh Bửu Chỉ
Phạm Duy là một trong những nhạc sỹ nổi tiếng nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Với một gia tài âm nhạc đồ sộ, trong đó có các tác phẩm đã ghi dấu ấn thật sâu đậm trong lòng người nghe của rất nhiều thế hệ như: Tình ca, Tiếng sáo Thiên Thai, Ngày xưa Hoàng Thị, Con đường cái quan, Bà mẹ Gio Linh, Tình hoài hương, Mẹ Việt Nam, Cô hái mơ, Quê nghèo,... Âm nhạc Phạm Duy rất đa dạng, phong phú từ thể loại cho tới đề tài. Khi thì những bài hát tụng xưng quê hương, lúc thì viết về những kiếp người, về tình yêu lứa đôi, những suy tư với cuộc sống,... với nhiều cách thể hiện và với các hình tượng âm nhạc khác nhau. Ông cũng là người có công làm mới những bài dân ca, bằng cách phổ lại nhạc (hoặc đặt lại lời mới) cho chúng. Nhờ đó mà những bài dân ca này lại tiếp tục được sống trong lòng công chúng yêu nhạc vì nó phù hợp với tâm lý, tình cảm của con người trong hiện tại. Ở đây, nét nhạc Phạm Duy hào hoa, tình tứ, bay bướm và lả lơi.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

Chỉ tại dòng sông đa tình


Em ơi, đã lâu lắm rồi mình không gặp nhau em nhỉ. Anh vẫn nhớ buổi đầu tiên ấy, lúc mà anh được nghe giọng nói của em qua điện thoại đường dài. Giọng nói của người con gái miền trung. Nhẹ nhàng, ấm áp và rất ngọt ngào. Ngọt như cỏ mật bên dòng sông thanh bình và thơ mộng. Có phải vùng đất đầy cát bụi nắng gió đã là chất dinh dưỡng để tạo nên vẻ đẹp mặn mà của em? Những câu chuyện em kể cho anh nghe về miền quê, về cuộc sống nơi phương xa luôn cuốn hút anh. Bởi nội dung câu chuyện hay vì người kể?... Thế rồi anh chợt biết làm thơ. Từ đôi mắt biêng biếc đa tình của em đó, đôi mắt mà chỉ một chút vô ý của tạo hóa nữa thôi, chắc sẽ biến nó thành lẳng lơ và tẻ ngắt lắm. Nhiều người sẽ thắc mắc về câu hỏi này: Sao em đẹp đến thế? Riêng anh, đơn giản một điều, là chỉ tại dòng sông đa tình, phải không em...

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Mắm Tam Quan

Nước mắm là một đặc sản của những nước nhiệt đới gần biển. Đó là cách bảo quản thực phẩm tài ba và thông minh của cư dân ở những xứ sở này, khi mà chưa hề có công nghệ làm lạnh và kết đông tôm cá và các loại hải sản khác. Tôi không rõ là có bao nhiêu nước trên thế giới có được một món ăn thú vị và tinh tế như nước mắm Việt Nam. Từ bát nước mắm này, nếu mà không có nó thì có biết bao nhiêu món ăn khác sẽ trở nên lạc lõng, vô duyên như một cô gái xuân thì, đoan trang mà trót nói năng, ứng xử vô lối. Cái màu hổ phách óng ả, cái mùi nồng đượm vị biển cả ấy chính là kết tinh của đất trời, của vạn vật để phục vụ cho cuộc sống con người. Có thể có người chê nó là món ăn hạ cấp, là hôi, là bẩn và không muốn sử dụng nó trong nấu nướng hàng ngày. Có người thậm chí còn đưa tay che miệng khi nhìn thấy nó. Thật là đáng tiếc cho những hành động lố bịch, cách nhìn hẹp hòi và nông cạn như vậy. Ẩm thực ở mỗi quốc gia bao giờ cũng khác nhau và đó chính là cái tạo nên sự đa dạng về văn hóa trên toàn cầu. Thành ra, dù ai có chê bai hay khinh bỉ nước mắm, đối với tôi, nó vẫn là thứ nước chấm tuyệt vời nhất, là "quốc hồn" của dân tộc. Nó khiến cho mỗi người dân Việt cảm thấy gần gũi với quê hương mình, thêm yêu non nước mình hơn. Thiếu nó, văn hóa ẩm thực Việt Nam chắc chắn bị khuyết đi một mảng không gì có thể bù đắp được. Vì sao ư? Xin thưa, đó là mắm Tam Quan, các bạn ạ...

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

Alexandre de Rhodes có phát minh ra chữ Quốc ngữ?

Ngôn ngữ là một trong những yếu tố nhận dạng quan trọng nhất về sự tồn tại của mỗi quốc gia trên bản đồ thế giới. Ngôn ngữ Việt cũng vậy. Kể từ khi thoát khỏi sự ảnh hưởng của tiếng Hán trong việc viết các ký tự, ngôn ngữ Việt, có thể nói, đã làm một cuộc tiến hóa ngoạn mục với việc tiếp nhận các ký tự La tinh mà sau này trở thành chữ viết chính thức của Việt Nam, chữ Quốc ngữ. Lâu nay ta vẫn thường nghe nói đến công lao của những nhà truyền giáo châu Âu, đặc biệt là Alexandre de Rhodes - một nhà truyền giáo nổi tiếng người Pháp, trong việc phát minh ra chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên, có phải thực sự ông là người duy nhất phát triển hệ thống bảng chữ cái được La tinh hóa không? Hay ông chỉ là một trong những người đồng sáng tạo và phát triển hệ thống chữ viết này? Bài nghiên cứu về vấn đề này sẽ được trình bày dưới đây. Bài viết là của tác giả Alain Guillemin, Viện nghiên cứu xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp. Bản dịch tiếng Việt của Ngô Tự Lập. Chân thành cảm ơn tác giả.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Lan man nhớ Huế


I
Về thăm xứ Huế chiều đông
Đền đài nhỏ bóng bên dòng sông Hương
Đến đây tôi chợt vấn vương
Vàng son một thuở, nẻo đường phồn hoa

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Kể chuyện hội ngộ mùa thu

Một mùa thu nữa lại về… Mùa thu luôn là mùa gợi cho ta bao nhớ thương và hoài niệm về một thời đã qua. Có khi chỉ là niềm thắc thỏm khe khẽ đợi chờ nỗi xao xuyến trong tâm hồn. Cũng là mùa của hạnh phúc lứa đôi: “Thu đã sang rồi em biết không/Tình thu vương vấn ở trong lòng…”. Câu thơ chợt ùa vào lòng ai mỗi độ heo may tràn trề từng góc phố, từng con đường Hà Nội…

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Ban mai



Nụ hôn ướt đẫm đêm mưa
Tình em ngây ngất giao mùa mỏng manh
Ban mai tỉnh giấc vắng anh
Hương sương lối cỏ long lanh cuối trời...

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Viết cho ngày Vu Lan

Sự chăm sóc đầu đời - Mary Cassatt (1884)
Một mùa Vu Lan nữa lại về… Vu Lan là một nét văn hóa thật hay, thấm đẫm tinh thần nhân văn của người Việt. Lễ Vu Lan được khởi nguồn từ một câu chuyện trong sự tích nhà Phật. Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi đắc đạo, muốn tưởng nhớ và đi tìm mẹ mình để muốn biết bây giờ bà ra sao. Mẹ ông là bà Thanh Đề, lúc còn ở trần gian gây ra nhiều ác nghiệp nên khi qua đời, phải chịu cực hình làm ngạ quỉ ở địa ngục. Thương mẹ, ông dâng cho bà một bát cơm nhưng không đến được vì nó đã bị biến thành lửa đỏ trước khi bà đưa lên miệng. Xót xa vô vàn, Mục Liên tìm về đức Phật Thích Ca để hỏi cách cứu mẹ và được Ngài dạy rằng: "Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó". Mục Liên làm theo và mẹ ông được giải thoát. Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời. Nếu như phương Tây có ngày của Mẹ, ngày của Cha thì chúng ta có ngày Vu Lan. Vu Lan là dịp để con cái báo hiếu với cha mẹ, những người đã sinh thành và nuôi dưỡng chúng ta khôn lớn. Đó cũng là ngày để cho mọi người cúng bái những linh hồn đói khát, bơ vơ. Ta gọi rằm tháng bảy là ngày xá tội vong nhân.

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

Nơi Nietzsche sinh ra để trở thành bất tử

Friedrich Nietzsche (1844-1900)
Friedrich Nietzsche (1844-1900) là một trong những nhà triết học có ảnh hưởng lớn nhất tới triết học hiện đại. "Con người là một cái gì đó cần phải bị vượt qua" chính là một trong những triết thuyết cơ bản của ông. Phong cách viết của ông bao giờ cũng mang tính chất ẩn dụ, với những hình tượng điển hình và được thể hiện rất...thơ. Điều này khiến cho những tư tưởng triết học của ông không khô khan, cứng nhắc mà rất uyển chuyển và linh hoạt. Tác phẩm quan trọng nhất của ông Zarathustra đã nói như thế (Also sprach Zarathustra) đã trình bày về bản chất của kiếp người, sự không thừa nhận thần thánh và ý niệm về Siêu nhân, về sau này đã bị Đức quốc xã lợi dụng vào việc tàn sát người Do Thái. Một điều trớ trêu là sau khi ông qua đời, đến khoảng nửa đầu thế kỷ 20, người ta mới đánh giá lại được về những công lao của ông đối với triết học hiện đại thông qua Martin Heidegger và những người khác. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng đến triết học hiện sinh, chủ nghĩa hậu hiện đại, phân tâm học,... Thông qua những tác phẩm của ông, tôi nhận thấy một tình yêu vô bờ bến với loài người, một ý chí không chịu lùi bước trước khó khăn gian khổ, với cuộc sống đầy bất hạnh và cô đơn, và một tài năng vượt trội mà có người đã ví von về ông: thiên tài của mọi thiên tài. Ông xứng đáng được tụng xưng là con King-Kong của nền triết học hiện đại. 

"Địa linh nhân kiệt", câu nói đó có lẽ muốn đi tìm lời giải đáp (tương đối) về sự hình thành và phát tiết của các tài năng. Nietzsche sinh ra ở đâu? Đó là ngôi làng nhỏ bé và thanh bình Roecken (gần Leipzig). Là nơi mà ở đó đã cất lên một tiếng gầm vang của một triết nhân - thi nhân: Friedrich Nietzsche, người mà cho đến tận bây giờ vẫn còn để lại niềm kinh dị cho hậu thế.