Thứ Tư, 20 tháng 2, 2008

Làng thơ và những người nông dân thi sĩ


Chỉ còn một ngày nữa là Ngày thơ Việt Nam lần thứ 6 lại đến. Không ít người đang quan tâm xem Ngày thơ lần này sẽ được tổ chức như thế nào: Thả thơ lên trời hay bình thơ, thi viết thư pháp thơ hay thi đối, sân thơ trẻ có làm được gì xuất thần không… Với cá nhân tôi, những nội dung nói trên chỉ là việc phụ. Việc chính là Ngày thơ nhắc cho chúng ta biết rằng: Thơ ca là một cái gì đó tuy thật mơ hồ nhưng vẫn cần cho đời sống này.

Ngày thơ chỉ là một ngày hội. Nơi các nhà thơ và bạn đọc đến đó để hy vọng thấy rằng thơ ca vẫn là một sản phẩm văn hóa tối cao trong đời sống quá nhiều bi kịch của con người.

Lúc này đây, tôi lại nhớ đến một sự kiện đặc biệt của Ngày thơ lần thứ 5. Đó là việc làng Chùa, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, một làng được các nhà thơ và người yêu thơ gọi là Làng Thơ Việt Nam, đã tổ chức Ngày thơ lần thứ 5 trong chính ngôi đình của làng. Hơn 300 nhà thơ và những người yêu thơ từ nhiều nơi đã tới làng Chùa trong Ngày thơ ấy. Chiêng trống đã nổi lên, trầm hương đã đốt, những người nông dân làm thơ làng Chùa cùng các nhà thơ đã đọc thơ về đất đai xứ sở mình, về con người và về hạnh phúc.

Trong một chuyến về thăm làng Chùa, nhà thơ Nguyễn Trác, nhà thơ Nguyễn Đức Quang, nhà thơ Đỗ Hoàng và một số nhà thơ của Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tây đã có sáng kiến tổ chức Ngày thơ ở làng Chùa. Có một người làng Chùa hỏi tôi tại sao các nhà thơ danh tiếng lại chọn làng Chùa để tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5? Để trả lời câu hỏi này, xin bạn đọc cho tôi được viết đôi dòng về những người nông dân yêu thơ và làm thơ ở cái làng nhỏ bé và như rất xa xôi ấy.

Trong Lời chào mừng các nhà thơ và các quý khách về dự Ngày thơ tổ chức tại làng Chùa, ông Lê Xuân Dân, một người làng Chùa, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Sơn Công có viết: “Trên cổng làng xưa của làng Chùa có ghi bốn chữ: Vọng Tự Nhập Xuất (nhìn chữ để biết việc ra vào. Chữ ở đây là văn hóa. Chỉ có văn hóa mới giúp con người biết hành xử với cuộc đời). Cổng làng xưa không còn nhưng bốn chữ ấy mãi mãi dựng lên trong tâm hồn và ý thức người làng Chùa ngôi đền của văn hoá và tinh thần sống. Vọng Tự Nhập Xuất chính là khát vọng được hiểu biết và được khai mở để thấu được lẽ làm người. Một trong những lẽ làm người là lẽ làm thơ. Bởi thế mà người làng Chùa nói: “Nước sông Đáy lúc đầy lúc vơi, nhưng chỉ một dòng chảy ra Biển cả. Thơ người làng Chùa khi nồng khi nhạt nhưng lòng luôn hướng về Đạo lớn”. Và tôi hiểu: Đạo lớn chính là Đạo làm người vậy.

Trước kia làng Chùa có một Tao đàn thơ. Những người tham gia Tao đàn này có cả những cụ đồ nho và cả những người nông dân. Thậm chí có cả những người nông dân không biết chữ nhưng “xuất khẩu thành thơ”. Tôi nghĩ đây cũng chính là một trong những đặc tính rất riêng biệt của tiếng Việt. Trong đó, nhạc tính là một yếu tố rất quan trọng cộng với tâm hồn phương Đông của họ đã làm cho họ gần với thơ. Sau này Tao đàn thơ làng Chùa phải ngưng hoạt động và cho đến mãi sau này mới hoạt động trở lại với một tên gọi khác Hội thơ làng Chùa. Chủ tịch Hội thơ làng Chùa đầu tiên là ông Nguyễn Đức Thịnh còn gọi là ông Hàn Thịnh. Tôi đã hỏi một số người già của làng Chùa vì sao lại gọi ông Nguyễn Đức Thịnh là ông Hàn. Những người già nói ông Thịnh được Vua Bảo Đại phong danh là Hàn lâm Viện sỹ vì ông là một thợ may đã từng đoạt Huy chương Vàng Hội chợ Đông Dương cho những thiết kế thời trang ngày ấy và đã có công may những bộ quần áo rất đẹp cho Bảo Đại và Hoàng hậu. Sau khi Cách mạng thành công, ông Hàn Thịnh đã ủng hộ Chính quyền mới nhà cửa và tiền của của mình ở Hà Nội và trở về quê sinh sống. Ông chỉ mang theo ông về quê ba thứ: Chiếc xe đạp máy hiệu Rolex, chiếc máy khâu singe và một bộ uống trà cổ. Buổi sáng ông uống trà bằng bộ uống trà cổ và đọc sách Thánh hiền. Buổi chiều, ông thường mặc một bộ quần áo lụa chống ba-toong đi dạo. Ông sống tằn tiện và vất vả như mọi người nông dân trong làng. Nhưng phong thái của một người lịch lãm và hiểu biết trong ông không hề phai mờ.

Tôi còn nhớ năm 1982, khi nhà thơ Phạm Tiến Duật về làng tôi nói chuyện thơ, làng đã căng một tấm băng rôn với dòng chữ: Kính chào doanh thơ Phạm Tiến Duật. Chữ Doanh thơ là chữ của ông Hàn. Đêm ấy, hầu hết những người nông dân làng Chùa đã mang đèn dầu ra sân đình ngồi nghe nhà thơ Phạm Tiến Duật nói chuyện thơ. Ngày ấy làng tôi chưa có điện. Đấy là một đêm kỳ lạ trong ký ức của tôi. Một đêm mùa hạ đầy tiếng côn trùng và tiếng cuốc kêu từ cánh đồng gần đó vọng về. Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã nói về tâm hồn người Việt trong ca dao dân ca và những bài thơ trong những năm chiến tranh chống Mỹ. Đêm ấy người làng Chùa thức cho tới gần sáng. Họ như gặp được kẻ tri âm. Lúc đó, tôi đã bắt đầu hiểu sức mạnh của thơ ca huyền diệu như thế nào.

Cũng từ ngày đó, người làng tôi không ai bảo ai đều coi nhà thơ Phạm Tiến Duật là công dân thơ danh dự đầu tiên của họ. Sau này là các nhà thơ Nguyễn Duy, Y Phương, Trần Ninh Hồ... và bao nhà thơ khác cũng đã đặt chân lên cái làng nhỏ bé ấy. Khi nhà thơ Phạm Tiến Duật trở về Hà Nội, người làng Chùa tiễn ông ra tận mặt đê và lúng túng trao cho ông một túi quà quê. Và cũng từ đó, Phạm Tiến Duật trở thành công dân danh dự của làng. Ngày nhà thơ Phạm Tiến Duật tạ thế, một số người đại diện cho làng Chùa đã dậy từ khi gà chưa gáy đến viếng nhà thơ.

Thú thực, tôi chưa bao giờ viết một chữ nào về những người nông dân làm thơ làng Chùa. Bởi tôi thấy họ làm thơ như là một lẽ sống giản dị từ hàng trăm năm nay, như họ đã cày cấy và gieo trồng, như họ đã khổ đau và hạnh phúc, như họ đã sinh ra và biến mất trên chính đất đai của họ. Tôi không viết về việc yêu thơ và làm thơ của họ bởi tôi sợ chạm vào thì một cái gì đó sẽ biến mất. Đây là một ý nghĩ thiển cận và có tính “tư hữu”.

Làng Chùa chỉ cách Hà Đông chưa đầy 30 cây số. Hầu như tuần nào tôi cũng về quê. Và những đêm ở quê, tôi thường được nghe chương trình thơ của những người nông dân làng tôi trên hệ thống loa phát thanh của làng. Trên đường làng, đôi khi tôi dừng lại bởi một người nông dân muốn đọc cho tôi nghe một bài thơ mới làm và muốn tôi góp ý. Sự thật là tôi chưa góp ý được bao giờ. Bởi đó vừa là một bài thơ vừa không phải là bài thơ. Có một điều gì đó còn xúc động và ý nghĩa hơn một bài thơ của tôi mà tôi đã nhiều lúc dày công suy ngẫm và sửa chữa. Không có một người nông dân nào của làng tôi có ý định trở thành nhà thơ mặc dù họ luôn luôn tôn vinh đầy xúc động và chân thành những nhà thơ họ gặp. Tôi là một nhà thơ và tôi được nhận quá nhiều ân hưởng từ những người nông dân làng tôi mà đúng ra tôi không đáng được hưởng nhiều như thế. Tôi nhớ chừng 20 năm trước, trong một ngày Hội làng, một người nông dân làng Chùa đã đọc diễn văn khai mạc có đoạn viết : Ngày xưa nhiều nơi Hội làng thì mổ lợn, uống rượu và chơi cờ bạc, còn làng ta trong ngày Hội làng thì đốt trầm đọc thơ. Mừng thay, mừng thay đất làng ta sinh ra những thi sỹ. Những người nông dân làng tôi làm thơ để được sống, được bày tỏ và chia sẻ trong những ngôi nhà hai mái giản dị của họ chứ đâu để đợi chờ được ngợi ca. Chính vì thế mà họ truyền tình yêu thơ ca từ đời này đến đời khác như truyền cách yêu con người, yêu đất đai, yêu công việc cày cuốc và gieo hạt. Việc yêu thơ và làm thơ của họ là như vậy. Và không ít lần khi tôi nghĩ đến tình yêu thơ ca của họ, tôi, một nhà thơ, không thể không cảm thấy chút gì đó lúng túng và đôi khi xấu hổ.

Trước ngày thơ, ông Lê Xuân Sủng, Trưởng thôn có gọi điện cho tôi nói rằng người làng sẽ làm hai món ăn truyền thống để tiếp đãi các nhà thơ và các quý khách về dự Ngày thơ. Đó là món oản chấm chà (chà là mật mía nấu với cánh hồi và quế) và bánh tẻ. Đấy chính là hai món ăn mà trước kia các cụ trong Tao đàn thơ của làng Chùa thường dùng khi sinh hoạt Tao đàn. Suốt mấy ngày trước Ngày thơ, người làng Chùa gọi nhau quét dọn làng xóm, làm cây đèn truyền thống, chọn lựa cây cảnh của các gia đình để bày ở sân đình, luyện tập văn nghệ, giã gạo nếp làm oản và phân công say bột chuẩn bị làm bánh, chọn lựa những câu nói của người làng Chùa để đưa lên pano, băngrôn, chọn lựa người tham gia đọc thơ trong Ngày thơ, lo làm cỗ tiếp khách…

Tôi có nhiều mơ ước. Trong đó có cả mơ ước sẽ được chết như thế nào. Bởi ai rồi cũng đi đến ngày ấy. Tôi ước mơ cái ngày tôi trút hơi thở cuối cùng, tôi sẽ được nằm trong ngôi nhà ông nội tôi đã hình dung trong mười năm và xây lên mà cha tôi vẫn giữ được cho đến bây giờ. Mặc dù tường và ngói của ngôi nhà không còn như cũ bởi bị bom ném hai lần thổi bay hết. Nhưng bốn cột gỗ không hề suy chuyển và giữ vững toàn bộ khung nhà bằng gỗ xoan đào ngâm. Tôi sẽ nằm thanh thản trong ngôi nhà đó và được nghe những người nông dân làng tôi đến ngồi quanh tôi đọc những bài thơ của họ về cánh đồng, dòng sông, về những ngôi nhà của làng, về những vụ gặt, về những con chó hay sủa đêm, về những ngôi sao xanh của những tối thu… Những bài thơ lúc đó sẽ trở thành những Thánh ca nhỏ. Và tôi không có từ gì khác để nói về những bài thơ như thế nữa.

Nguyễn Quang Thiều

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2008

Thơ gửi người em gái phương xa


Ngày xuân chợt nhớ người phương xa
Nơi ấy giờ em chẳng có hoa
Chỉ có phòng thơm, niềm cô lẻ
Tháng ngày đằng đẵng, đếm xuân qua

Tôi chỉ xin làm chút nắng thôi
Và gom ánh nắng tới em tôi
Rồi rót vào em từng giọt ấm
Ngọt ngào da thịt cháy đôi môi

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2008

Bài thơ khai bút đầu xuân Mậu Tý


Xuân sang rạo rực cùng dân tộc
Tự hào con cháu giống Tiên - Rồng
Góp sức dựng xây nền văn hiến
Quyết chí bền lòng với núi sông

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2008

Bơ vơ


Gửi Em

Em đã làm thơ anh họa thơ
Bơ vơ hai kẻ nối hai bờ
Em sang bên ấy mành trăng rủ
Anh ở bên này nhện nhả tơ...

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008

Mộng


Ngoài kia gió có lạnh không em?
Giờ anh mộng mị với hương quen
Làm sao đem nắng xua băng giá
Để được gần em suốt đêm đen

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2007

Không đề


Tặng Em

Em đi sáng cả trời chiều
Tim anh rực cháy lửa thiêu đốt lòng
Hà thành mùa đã vào đông
Hình em nhuộm ánh lửa hồng đời anh

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2007

Cảm tác ở Huế


Anh hẹn tôi gặp nhau ở Huế

Ngâm thơ uống rượu chốn chân quê

Có em thôn nữ dòm khe cửa

Xao xuyến lòng ai chẳng muốn về

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2007

Em có phải là Diễm ngày xưa?




< name="baseURL" value="">




Chút rung cảm khi nghe bài hát “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn

Tầng tháp đìu hiu thoáng mưa bay
Dấu xưa người cũ vẫn còn đây
Rơi rụng chiều tàn anh nhặt bóng
Xác xơ đá sỏi lạnh đôi tay

Có phải em là Diễm ngày xưa?
Để anh chờ mãi dáng thu mơ
Mưa ướt tim anh từng giọt đắng
Em ơi ! đừng phụ kẻ trong mưa

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2007

Vài nét về nghệ thuật cải lương


Nhà sinh vật học người Anh Thomas Huxley (thế kỉ 19) từng nói rằng người làm khoa học mà không biết đến văn hóa nghệ thuật thì chẳng khác gì một cỗ máy. Tôi rất đồng tình với ý kiến trên. Theo tôi, một con người nếu không biết, không nhớ, không yêu văn hóa nghệ thuật truyền thống thì có lẽ anh/chị ta không thể lớn nổi thành Người được. Cha ông đã để lại cho chúng ta những di sản văn hóa nghệ thuật vô giá, trong đó có nghệ thuật cải lương. Cải lương là bộ môn nghệ thuật ra đời sau các môn như: ca trù, chèo, tuồng, quan họ, nhã nhạc cung đình, hát ví,... nhưng đã có một đời sống vô cùng phong phú, dẻo dai, mãnh liệt trong lòng những người dân Việt.

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2007

Biển vắng

Thơ: Trịnh Thanh Sơn
Trình diễn: Kim Dung


Rơi chiều vàng ngơ ngác sóng

Xin đừng dõi chi chân trời

Anh ngồi im chìm chiếc bóng

Chén này biển với mình thôi!

Một cộng với một thành đôi

Anh cộng cô đơn thành biển

Nắng tắt mà người không đến

Anh ngồi rót biển vào chai.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2007

Cảm nhận về một bài thơ của Đồng Đức Bốn

Tôi đọc thơ Đồng Đức Bốn khá muộn, hơn một năm sau khi nhà thơ đã qua đời do căn bệnh ung thư quái ác. Nhưng những bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn cứ ám ảnh tôi mãi, giống như bị bỏ bùa mê thuốc lú của một người con gái mà mình không thể nào dứt ra được. Tôi như một kẻ độc hành trên sa mạc tìm được nguồn nước cứu sinh khi đọc thơ ông. Phải công nhận rằng, sở trường của Đồng Đức Bốn là thơ lục bát. Nói như nhà thơ Trần Đăng Khoa, nếu coi bậc thợ kim hoàn cao nhất là 7/7 thì Đồng Đức Bốn được xếp vào bậc 9/7. Ông viết trên 500 bài thơ lục bát, trong đó có khoảng vài chục bài thơ được liệt vào hàng tuyệt đỉnh. Thơ lục bát của ông có một nét riêng, rất quyến rũ, từ tốn, chậm rãi, khiến người ta có cảm tưởng như những câu ca dao, những câu nói bình thường trong đời sống hàng ngày. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp quả đã không ngoa khi cho rằng Đồng Đức Bốn là nhà thơ lục bát kỳ tài của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, khoảng hơn chục sáng tác của ông là tài tử vô địch, còn phần nhiều lại chẳng ra gì [1].

Trong số những bài thơ lục bát tài tử vô địch của ông, bài thơ làm tôi nhớ nhất và đau đầu nhất vì khó hiểu chính là bài "Vào chùa" [2].

Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày

Mới đọc qua, ta cảm giác bài thơ lục bát này có gì đó tầm thường, rỗng tuyếch. Vỏn vẹn 28 chữ, mà cũng chẳng đặc sắc nếu xét về mặt niêm luật thơ lục bát. Nếu nói nghiêm khắc, bài thơ này hỏng về mặt gieo vần cũng như luật thơ. Thứ nhất, ở câu đầu tiên, chữ thứ hai và chữ thứ tư cùng vần bằng với nhau (trưa-mày), trái với luật bằng trắc trong thơ lục bát. Thứ hai, bài thơ bị điệp vận (trùng vần) ở câu thứ hai và câu thứ tư (đi-đi). Như vậy, chỉ có bốn câu lục bát mà đã mắc tới hai lỗi về gieo vần và luật bằng trắc thì làm sao mà thành một bài thơ hoàn chỉnh được. Bài thơ này nếu mà rơi vào tay những nhà phê bình chỉ chăm chăm đi xem mặt chữ để bình phẩm giá trị nghệ thuật thì sẽ bị chê cho tới số. Một người nước ngoài học tiếng Việt ở trình độ sơ cấp chắc là cũng dịch được tốt bài thơ này.

Vậy thì, bài thơ này tuyệt đỉnh ở chỗ nào?

Tôi chợt nhớ tới những bài thơ (hay văn) không có chữ như có lần Trần Đăng Khoa đã từng nói [4]. Không có chữ ở đây nghĩa là bản thân những con chữ bạc phếch kia, tự nó sẽ chẳng là gì nếu ta không thổi hồn thơ vào trong đó, và khi đọc hay bình phẩm những bài thơ không có chữ, nên đọc bằng trực giác nhiều hơn là đọc bằng lý trí. Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, có thể bắt gặp một số ít nhà thơ như vậy. Chẳng hạn, trong thơ Bùi Giáng, thơ Hàn Mặc Tử, thơ Lê Đạt... có rất nhiều bài là thơ không có chữ. Thậm chí, có người còn nói đó là những bài thơ điên, vì toàn những gầm rú, la hét, điên loạn,.. chẳng có vần điệu tối thiểu của thơ gì cả. Thực ra thì những bài thơ này đâu có điên loạn như mọi người nghĩ. Chẳng qua là những bài thơ đó được viết ra bằng một thứ được gọi là tư duy vô trí, khi sáng tác nhà thơ không cần quan tâm đến đến cấu trúc thơ, luật thơ ra làm sao mà chỉ cần có một ý tưởng bất chợt lóe lên trong đầu là họ chộp lấy và ghi ra giấy. Họ cũng chẳng cần sửa chữa gì nhiều đối với những bài thơ này. Làm thơ kiểu này khó vô cùng và vì thế, có rất ít nhà thơ có thể sang tác theo kiểu tư duy vô trí được. Những bài thơ không có chữ như vậy không thể hiểu, chỉ cảm nhận được mà thôi, cũng giống như không khí xung quanh chúng ta vậy, có ai nhìn thấy được nó bao giờ đâu mặc dù có thể cảm nhận được nó.

Quay trở lại với bài thơ lục bát này. Theo tôi, đây cũng là một bài thơ không có chữ.

Đang trưa ăn mày vào chùa

Câu thơ nêu lên một sự việc có vẻ lạ đời. Tại sao ăn mày lại vào chùa, và lại vào lúc đang trưa? Nếu chỉ để tìm kiếm cái ăn, sao anh ta không đi đến nơi chợ búa, cửa hàng ăn uống vốn có nhiều thức ăn hơn? Đây là một sự vô tình hay hữu ý của kẻ ăn mày. Tôi đã phải đọc đi đọc lại câu này cả chục lần mà cũng vẫn chưa tìm ra được lời giải thích hợp lý. Tuy vậy, tôi có thể cảm nhận được những cặp từ đối lập “ăn mày – chùa” phải chăng chính là “vô minh – cao minh” theo triết lý nhà Phật. “Đang trưa” ở đây có phải là “nửa đời người” không?

Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Đến câu này, sự việc có vẻ rõ ràng hơn. Ăn mày đứng ở chùa mãi không ai cho ăn gì nên có nhà sư thương tình ra cho một lá bùa, có lẽ để “đuổi khéo” kẻ ăn mày đi cho khỏi ô uế nơi cửa Phật, vốn là nơi thanh tịnh không thể chứa chấp một kẻ nghèo hèn nhất xã hội. Vẫn cái giọng điệu thơ rất đặc trưng, tửng tưng đến dễ ghét của thơ Đồng Đức Bốn, giọng thơ làm say đắm lòng người, làm “mê cung đình” ấy mà sao tôi thấy phát sợ, rờn rợn vì cái câu thơ này.

Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày

Kết cục là thế này đây. Ăn mày đang đói mà nhà sư cho lá bùa để làm gì? Có hộ mệnh được gì không? Nghèo kiết xác đến thế thì quỉ thần cũng chẳng thèm tha đi, nữa là những người ở trần gian. Thế nên ăn mày thì vẫn là ăn mày mà thôi, có thay đổi đâu, vẫn cái vòng luân hồi luẩn quẩn ấy, không thoát ra để đến cõi Niết bàn được.

Khi xem lại tiểu sử của Đồng Đức Bốn, tôi thấy ông cũng là một người ngưỡng mộ đạo Phật (ông có theo đạo Phật hay không thì tôi không được rõ lắm). Có lẽ vì lý do đó mà ông đã viết nên bài thơ tuyệt đỉnh này chăng?

Theo như Nguyễn Huy Thiệp đã từng phân loại, thơ lục bát được chia làm hai phái: Ngộ năng và Trí năng. Loại trí năng có vẻ ở câu sáu như thế này thì ở câu tám phải như thế kia, những liên tưởng dễ dắt nhau lôgic và có lý, đọc câu sáu người ta luận được câu tám. Những người nhiều chữ, những trí thức làm thơ, hoặc học đòi trí thức làm thơ thường ở loại này. Loại ngộ năng vị tình, lấy tình át chữ, đọc câu sáu mà không đoán ra được câu tám thế nào. Ngộ năng có phần hay hơn trí năng. Thực ra làm thơ lục bát cần tinh thông trí năng, nhưng trí năng học tập được, rèn luyện được, ngộ năng thì chịu, dứt khoát trời cho. Bởi vậy, lục bát mà ngộ năng thì hiếm quý. Ngộ năng đương nhiên bao gồm trí năng, nhưng trí năng không thể bao gồm ngộ năng được [1]. Theo cách phân loại này, thơ lục bát của Đồng Đức Bốn được xếp vào loại Ngộ năng. Vì vậy mà đọc thơ của Đồng Đức Bốn, ta không thấy chán và tẻ nhạt vì thơ của ông lấy tình làm trọng, không quá quan tâm đến câu chữ, niêm luật mặc dù điều này cũng quan trọng trong thơ ca.

Khi viết những dòng cảm nhận về bài thơ này, tôi cũng vẫn chưa hiểu được hết ý nghĩa của nó. Vội vàng lật giở lại những bài phân tích về thơ của Đồng Đức Bốn của các nhà phê bình văn học trong đó có bài “Vào chùa”, tôi nhận ra rằng đây là một bài thơ thiền. Đã là thơ thiền thì mọi lời bình luận đều vô nghĩa. Còn các bạn, các bạn nghĩ thế nào về bài thơ này?

Tham khảo
[1]. http://nguyenhuythiep.free.fr/giangluoi/GIOITHIEU.html
[2].
http://annonymous.online.fr/Thivien/viewauthor.php?ID=398
[3].
http://www.thovn.net/Viewarthor.asp?athor=44
[4]. Trần Đăng Khoa. Chân dung và đối thoại, NXB Dân tộc 2003

Nhân đây xin giới thiệu với các bạn một số bài thơ mà theo tôi là những tuyệt đỉnh khác của nhà thơ Đồng Đức Bốn. Hy vọng các bạn sẽ bổ sung thêm những bài thơ khác:

Chợ buồn

Chợ buồn đem bán những vui
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em
Chợ buồn bán nhớ cho quên
Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày
Chợ buồn bán tỉnh cho say
Bán thương suốt một đời này cho yêu
Tôi giờ xa cách bao nhiêu
Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư

Đời tôi

Tôi vừa lo được miếng cơm
Thì mất tí lửa tí rơm gầy lò.
Tôi vừa vượt bão mưa to
Chân đã phải lội đi mò sông sâu.

II
Mải mê tính chuyện không đâu
Qua song đã gẫy nhịp cầu chẳng lo.
Bòn mãi được mấy sợi tơ
Giăng ra bao kẻ đã vơ vào lòng.
Bây giờ còn có ai mong
Mà người mượn gió bẻ con trăng ngà.

III

Đời tôi tan nát bơ vơ
Nhớ thương là đợi còn chờ là yêu.
Đời tôi như một con diều
Đứt dây để trống cả chiều ngẩn ngơ.


VI
Đời tôi mưa nắng ở đâu
Bây giờ vuốt gió trên đầu tóc rơi.
Đời tôi tình rách tả tơi
Bây giờ nhặt mảnh sao rơi vá vào.
Đời tôi giầu ở chiêm bao
Bây giờ ngồi hút thuốc lào với trăng.

Trở về với mẹ ta thôi

Cả đời ra bể vào ngòi
Mẹ như cây lá giữa trời gió rung
Cả đời buộc bụng thắt lưng
Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng
Đường đời còn rộng thênh thang
Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng trời
Mẹ đau vẫn giữ tiếng cười
Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương
Bát cơm và nắng chan sương
Đói no con mẹ xẻ nhường cho nhau
Mẹ ra bới gió chân cầu
Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi.

2.
Chẳng ai biết đến mẹ tôi
Bạc phơ mái tóc bên trời hoa mơ
Còng lưng gánh chịu gió mưa
Nát chân tìm cái chửa chưa có gì
Cầm lòng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng.

3.
Mẹ mua lông vịt chè chai
Trời trưa mưa nắng đôi vai lại gầy
Xóm quê còn lắm bùn lầy
Phố phường còn ít bóng cây che đường
Lời rào chim giữa gió sương
Con nghe cách mấy thôi đường còn đau.

4.
Giữa khi cát bụi đầy trời
Sao mẹ lại bỏ kiếp người lầm than
Con vừa vượt núi băng ngàn
Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng
Trời hôm ấy chửa hết giông
Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng
Đưa mẹ lần cuối qua làng
Ba hồn bảy vía con mang vào mồ
Mẹ nằm như lúc còn thơ
Mà con trước mẹ già nua thế này.

5.
Trở về với mẹ ta thôi
Giữa bao la một khoảng trời đắng cay
Mẹ không còn nưa để gầy
Gió không còn nữa để say tóc buồn
Gió lùa khung cửa bên song
Mắt mẹ khô lệ mỏi mòn nhớ thương
Chiều ra đầu ngõ để chờ
Tóc bay trắng xoá bên bờ tịch liêu
Người không còn dại để khôn
Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm
Tôi còn nhớ hay đã quên
Áo nâu mẹ vẫn bạc bên nắng chờ
Nhuộm tôi hồng những câu thơ
Tháng năm tạc giữa vết nhơ của trời
Trở về với mẹ ta thôi
Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.


Bây giờ


Bây giờ không thấy Thị Mầu
Nhưng con mắt ấy còn lâu mới già.
Mỗi lần cây cải nở hoa
Thì tôi lại nhớ người ta chưa về.
Mỗi lần cỏ dại trên đê
Chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng.
Bây giờ em đi lấy chồng
Tôi giờ về lại bên sông tìm mình.

II
Bao nhiêu là thứ bùa mê
Cũng không bằng được nhà quê của mình.
Câu thơ nấp ở sân đình
Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau.
Nhuộm buồn những hạt mưa mau
Thành sao nở trắng vuờn cau trước nhà.
Nhuộm hương của các loài hoa
Thành mơn mởn tóc đuôi gà cho em.
Chẳng mong thì bão cũng đi
Chẳng chờ thì nắng đương thì vẫn sang.
Đất nâu tưởng đã cũ càng
Tiếng chim trong bụi tre làng cứ non.
Có đi trên quãng đường mòn
Mới tin rùa tháp vẫn còn linh thiêng.
Mỗi người có một cõi riêng
Cũng như tiếng trống tiếng chiêng hội mùa.
Câu ca mẹ hát như đùa
Mà làn nước mặn đồng chua đổi đời.

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2007