Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2008

Truyện ngắn Nguyễn Đức Thiện


Tôi gặp gỡ nhà văn Nguyễn Đức Thiện (NĐT) lần đầu tiên trong một quán nhậu bên đường Bưởi. Ấn tượng ban đầu của tôi về anh là một người đàn ông nghệ sỹ, vui tính, nói chuyện có duyên, với mấy chiếc răng khểnh. Tôi đã nghĩ thầm trong bụng "Cha này chắc "sát" gái lắm đây". Quả thực, nghe lời bạn bè kể, NĐT cũng là một tay "sát" gái nổi tiếng ở đất Tây Ninh. Mà thực ra, dân văn nghệ sỹ thì ai chả có người đẹp ngưỡng mộ và ưu ái, đâu kể gì NĐT.

Khi đọc NĐT, tôi ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng vì cách viết, vì truyện ngắn của anh. Một lối viết đậm chất miền Tây, tuy chưa rõ bằng Nguyễn Ngọc Tư (có lẽ vì NĐT quê gốc Thanh Hóa). Một lối viết tửng tưng, triết ký gợi rất nhiều cho người đọc, bắt người ta phải suy ngẫm, phải hình dung. Và khi đã hiểu ra được rồi, họ sẽ tự mỉm cười, hay tự khóc, tự dằn vặt về những nhân vật, những cảnh đời trong câu chuyện. Đó là một thành công, một cái tài của anh cũng như sức hấp dẫn trong truyện ngắn của NĐT. Cách đây 7 năm (2001), NĐT được giải A của cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ. Đó cũng là một sự ghi nhận thành công trong công việc viết lách của anh. Thi thoảng, Thiện cũng viết thơ, nhưng thơ của anh không phải là con người anh. Đúng như NĐT đã nói, thơ là một sự "ngoại tình", còn văn mới là Nguyễn Đức Thiện, mới là hồn vía Nguyễn Đức Thiện. Và tôi biết rằng, Thiện sẽ còn viết nhiều hơn nữa, hay hơn nữa vì đời sống này, vì kiếp nhân sinh này.

Trân trọng giới thiệu với bạn đọc truyện ngắn "Người đi xin chữ" của nhà văn Nguyễn Đức Thiện (Tây Ninh).

-----------------------------------------------------

Thoại quyết định tìm đến nhà thầy Bửu .

Nhà thầy nằm khiêm tốn ở một góc nhỏ của thị xã Tân An. Cách đây chừng chục năm, ngôi nhà cũ kỹ được cất từ thời ông nội của thầy nằm giữa một cánh đồng. Xung quanh trống trải, gió mát lồng lộng, Nhưng những năm gần đây, đường xá trong thị xã mở ra, thế là nhà thầy nằm ngay góc góc ngã ba đường. Nhà hai mặt tiền, mơ ước của không biết bao nhiêu người nơi phố xá. Thì để buôn bán làm ăn. Nhưng thày không buôn cũng chẳng bán. Cả hai vợ chồng chăm chút cho việc dạy dỗ học trò. Thày thì dạy văn cấp ba, còn vợ thày, một cô giáo tiểu học cũng sắp đến tuổi nghỉ hưu.
Thoại được mời vào phòng làm việc riêng tại nhà thầy Bửu . Trong phòng chỉ có một cái ghế bố dành để mỗi khi mỏi lưng, thầy ngả xuống đó nghỉ cho dãn xương, dãn cốt. Những kệ sách đứng sóng hàng trong căn phòng chật hẹp ấy. Bàn làm việc của thầy không phải là những cái bàn thông thường. Đó là cái bàn đá vừa dài, vừa rộng. Vậy mà cũng chật ních. Một bên là sổ sách, giấy tờ. Bên kia là hộp bút lông, giấy và nghiên mực. Trên bàn ấy được chia thành gianh giới: nửa bên này dành cho chữ quốc ngữ, bên kia, dành cho chữ Hán. Nhưng bên chữ Hán còn có thêm những tờ giấy với những chữ Việt viết theo lối thư pháp.

Thầy chỉ cho Thoại một chiếc ghế nhỏ:
- Anh thông cảm. Ngồi đó chờ tôi một chút.
Giọng thầy nhỏ nhẹ như thói quen nói với học trò.

Tết vừa rồi, nổi hứng Thoại có làm một đôi câu đối để khai bút. Thoại đã dùng máy vi tính trình bày khá đẹp nhưng khi treo lên tường cứ thấy nó chông chênh làm sao ấy. Đành rằng làm câu đối theo chữ quốc ngữ, nhưng đã là câu đối mà viết để treo tường, nhất định phải mang vóc dáng của lối viết cổ. Thoại thử ra tay, mang tất cả những tờ lịch có in chữ thư pháp ra để bắt chước. Song thật đáng thương cho Thoại, chẳng có hồn có vía gì khi những chữ được Thoại bôi ra trên giấy. Cũng vì mấy chữ đó mà cái tết năm con gà này Thoại cứ băn khoăn ra vào. Một hôm vợ Thoại có việc đi thành phố Hồ Chí Minh . Từ dưới ấy cô ấy điện về:
- Anh hả. Em tìm được người viết thư pháp rồi, anh đọc lại câu đối cho em. Em đặt người ta viết cho.
- Ai thế ?
- Em không biết. Nhưng em đang đứng ở chỗ người ta đây. Em có số điện thoại di động của người viết rồi. Em gọi, họ bảo, chút nữa họ tới.
- Em này. Thư pháp không phải ai cũng viết được đâu…
- Thôi mà. Anh cứ đọc cho em đi. Người ta dám mở tiệm viết chữ, không lẽ người ta không viết được sao.

Chiều vợ, Thoại đọc và dặn dò thật kỹ lưỡng từ cỡ chữ, cỡ tấm giấy, cách trình bày. Từ lúc đọc xong câu đối cho vợ, Thoại bắt đầu băn khoăn và có cả một chút ân hận nữa. Thoại ráng hình dung ra đôi câu đối mà vợ sẽ mang về. Chữ đen này, nền đỏ này. Khổ giấy đứng này. Hay lụa? Băn khoăn, hình dung chán rồi Thoại bắt đầu lo. Nhất định là vợ Thoại sẽ rất mừng vì đã làm được một việc có ý nghĩa cho anh. Nhất định khi về đến nhà, cô ấy sẽ trao tận tay Thoại đôi câu đối ấy và cười thật tươi. Nhưng lỡ câu đối ấy viết không được như ý Thoại, không ra được cái thần của câu đối thì sao? Có treo lên tường không? Không treo thì làm vợ giận, vợ hờn. Treo lên ngày nào cũng phải nhìn một thứ sản phẩm què cụt thì ngứa mắt. Mà treo lên rồi liệu có cách nào để hạ xuống. Coi chừng lúc hạ xuống, nhà cửa có khi còn nổi giông bão nữa kia. Câu đối khai bút vào lúc giao thừa kia mà. Nó hào sảng, khí phách, mỗi chữ được chắt ra từ con tim chớ bộ. Đâu có thể xem thường. Hai ngày vợ Thoại ở thành phố là hai ngày anh nôn nao khó chịu. Rồi vợ Thoại cũng về. Không thấy cô ấy cười. Tin lành rồi. Quả nhiên khi bước chân vào nhà vợ Thoại nói ngay:
- Mắc quá. Có vài chục chữ mà họ đòi tới gần năm trăm ngàn đồng…
Thoại giải thích:
- Chữ mà em. Các cụ phải luyện cả đời bây giờ mơi dùng bút mà kiếm sống được . Nhất là bây giờ phú quý sinh lễ nghĩa, chữ mới có chỗ để bán. Đâu có rẻ được, em…
- Các cụ nào đâu. Hắn còn trẻ mà. Chừng hai mấy, ba chục thôi hè. Cái miệng nói cứ leo lẻo. Trả bớt một chút nhất định không. Nên em không…
Thấy vợ buồn Thoại an ủi:
- Không sao đâu. Cứ để đó cho anh, thế nào rồi anh cũng nhờ người viết giùm.

Thoại bỗng nhớ đến thầy Bửu . Thầy là một cộng tác viên chuyên viết bài cho mục “ Đông Tây kim cổ” cho tờ báo nơi Thoại làm biên tập. Mục này thầy là người sáng lập. Thầy mà không viết chắc không ai viết được. Thầy sưu tầm tất cả những chuyện đã từng in trong sách, in trên báo, thấy có chuyện gì tác động đến dư luận chung hoặc có ý nghĩa giáo dục là thầy chép lại và sau đó là những lời bình thật ngắn nhưng thật sâu sắc. Mỗi tuần một chuyện. Gần chục năm nay, thầy không bỏ mục lần nào. Rồi tất cả những chuyện mà thầy viết ấy đã được in thành sách. Hôm cuốn sách in xong, thầy trịnh trọng mang đến tận toà soạn tặng Thoại. Thoại còn biết rằng: ngoài việc giảng dạy ở xứ này, thầy còn về thành phố Hồ chí Minh dạy chữ Hán và thư pháp ở trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn . Thầy không nói, nhưng ai cũng biết xứ này thầy là người hiếm hoi am tường chữ Hán. Vì thế mà hôm nay, Thoại có mặt tại nhà thầy Bửu . Khi gặp được thầy Bửu , nhất định anh sẽ có một câu đối từ ngọn bút của thầy . Với bút pháp hoành tráng nhưng phóng khoáng của thầy, đôi câu đối của Thoại sẽ làm cho căn nhà của Thoại ẩn chứa một nét văn hoá mà ai cũng thèm muốn.
- Anh nhờ mình viết câu đối hả?
- Dạ. Nhưng thầy có rảnh không đã.
- Rảnh thì không rảnh. Nhưng anh đã đến đây rồi không rảnh, cũng phải rảnh. Cộng tác với nhau ngần ấy năm trời không lẽ từ chối được anh sao.
Thầy cười. Nụ cười thật hiền lành.
- Anh đưa câu đối tôi coi thử?
- Thầy đừng cười nghe. Trước một người thông thạo như thầy mà đưa câu đối…
- Ua, anh không tự tin hả. Này, vào lúc giao thừa ấy mà, lòng người ta trong sáng nhất đấy. Bao nhiêu vất vả lo toan, bao nhiêu giận hờn bực bội mất sạch. Lúc đó, tâm hồn người ta giống y như hồi con nít. Toàn thấy vui. Không gợn buồn, lúc đó mà viết ra được cái gì là quý lắm đó. Nào anh đưa tôi…

Thoại rút từ trong chiếc cặp một mảnh giấy. Không hiểu sao, Thoại bỗng thấy mình bé nhỏ trở lại. Người thầy trước mặt anh mảnh khảnh. Dáng thư sinh còn lại trên thân hình mảnh khảnh ấy. Mái tóc đã điểm sương. Hai mắt sáng dưới cặp chân mày cũng vương nhiều sợi bạc. Cặp kiếng che bớt chút ít vẻ long lanh ở hai mắt. Trong lúc nói chuyện hình như để nhìn cho rõ hơn, thầy hơi cúi xuống để chiếu thẳng mắt mình với mắt người đối diện. Từ lúc đến đã mấy lần Thoại gặp ánh mắt thầy trong tư Bửu như vậy. Mọi khi thầy đưa bài cho Thoại, còn hôm nay Thoại đưa bài cho thầy. Anh đưa tờ giấy bằng cả hai tay và đầu hơi cúi xuống. Thầy Bửu cũng đưa cả hai tay đón tờ giấy mong manh của Thoại. Thầy xoay lại ngồi cho ngay với ngọn đèn bàn mới được bật sáng và hai tay nâng tờ giấy lên ngang mắt. Phút im lặng khá dài. Thầy bỗng buông:
- Được đấy. Một chút băn khoăn. Một chút răn mình. Nhưng chứa đựng một hoài bão lớn nữa… Anh muốn viết văn hả…
- Lực bất tòng tâm, thưa thầy …
- Biết thế là tốt. Này, tôi cũng có một câu đối tết năm nay đấy, nhưng nhớ trong lòng thôi không viết ra. Nó là thế này: “ Gặp năm gà, sớm hôm bươi móc, lượm từng hạt liệu có đầy chữ nghĩa”, “ Mang lốt chuột, đêm tối vật vờ, gom cả đời sao còn thiếu văn chương ”. Chữ nghĩa văn chương mà, cả đời làm cũng không hết việc, cả đời còn nợ đấy.
Thầy vừa nói vừa đứng dậy, lấy chai nước lọc, mở cái bù đài, ghé đổ vào nghiên mực, ở đó có cây mực nho. Thoại đỡ lấy:
- Thầy để tôi mài mực cho.
- Anh biết mài mực?
- Mài mực thôi mà. Sao lại không biết…
- Ay không được. Ngày xưa, tôi phải mất ba năm mài mực, thầy tôi, tức ông cụ thân sinh ra tôi ấy mà, mới cho tôi cầm bút viết lên giấy đó…
- Ba năm…
- Ba năm là còn ít đó. Thầy tôi là một ông đồ nổi tiếng ở xứ Tân An này. Một hôm ông có khách.
Khách là một ông đồ già, hơn thầy tôi đến vài tuổi. Hai cụ gặp nhau xá dài, thắp hương án xong mới ngồi trò chuyện. Ngồi lâu lắm, tôi mới thấy thầy tôi đứng dậy vào thư phòng lấy ra một tờ giấy hồng điều. Lúc thầy quay vào nhà lấy nghiên mực, tôi sốt sắng đỡ lấy. Thầy tôi trừng mắt: “ Đâu đến lượt con”. Thế rồi trong lúc thầy tôi mài mực thì ông đồ kia ngồi vuốt râu, mắt nhắm nghiền lại. Khi mực mài xong, ông đồ kia mới đứng dậy, hướng lên hương án, xá ba xá mới cầm lấy cây bút. Người ông như trong một thế võ. Cây bút trên tay ông khua mấy vòng rồi hạ xuống nghiên mực. Lúc nhắc cây bút ra khỏi nghiên mực tôi có cảm giác như cả người ông đang toả ánh hào quang. Rồi tay ông đưa tới. Phút chốc thôi, ông hạ bút và từ từ ngồi xuống ghế. Ông giống như ông tiên râu dài ấy. Đến giờ tôi còn nhớ. Trên bàn thờ thầy tôi, tức ông cụ thân sinh ra tôi đó, chữ ấy vẫn còn đó. Lúc sắp qua đời, thầy tôi dặn đi dặn lại: bàn thờ thầy không cần phải có hình ảnh gì cả, một chữ đó thôi là được. Chữ “ Trí”. Hôm ấy, thầy tôi xá ông đồ mấy xá liền. Thầy tôi lộng chữ ấy vào khung kiếng treo ngay chính giữa nhà. Sau này tôi có hỏi, thầy tôi bảo: “ Đất nước đang trong thời loạn. Chữ gì cũng không hợp bằng chữ “trí”. Chiến tranh tâm làm sao yên , đức làm sao trọn, thiện thì không lẽ trốn chạy cái ác. Phúc, lộc, thọ sao được khi bom đạn nổ uỳnh oàng khắp nước Nam ta. Nhẫn để kẻ cướp nó đè đầu cưỡi cổ mình sao. Chữ trí để răn bảo người ta lấy cái trí mà lo cho đất nước sớm được thanh bình. Có thanh bình rồi chữ gì cũng có hết.”
Nghe thầy tôi dạy mà thấm thía. Các cụ nhà mình là như thế đó. Viết một chữ thôi cũng phải đắn đo, chiêm nghiệm đã rồi mới viết. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái dáng ông đồ bạn vong niên của thầy tôi ngồi nhắm mắt vuốt râu. Cái chữ nó quan trọng lắm. Người ta thành người được hay không là nhờ cái chữ. Thế mà bây giờ có người chẳng coi cái chữ ra gì cả. Hôm vừa rồi, có một cậu học trò của tôi đến đây. Cậu ấy học tôi hồi còn nhỏ. Rồi đi kháng chiến, bây giờ làm chức to lắm ở mãi trên Thành phố kìa. Đến bằng xe du lịch hẳn hoi. Tưởng lâu ngày nhớ thầy thì đến thăm thầy , ai dè, cậu ấy đến xin chữ. Cậu ấy chỉ xin một chữ “ tâm” thôi. Cậu ấy bảo tôi: “ Em mới cất xong cái nhà. Phòng khách nhà em lớn lắm. Thằng bạn người Campuchia bây giờ làm quan đầu tỉnh bên ấy, tặng em một cặp ngà voi, mỗi ngà dài cả thước. Em đã trưng ở giữa nhà. Rất oai. Nhưng vẫn thiếu một cái gì đó.Thế là em nhớ tới thầy . Chữ bây giờ bán ngoài chợ thiếu gì. Nhưng em không thích. Em thích chữ của thầy . Nó hoành tráng lắm. Mà em chỉ lấy mẫu thôi. Từ mẫu ấy, em kêu thợ đúc đồng đến đúc cho em, dát vàng lên nữa. Thầy thử hình dung xem đôi ngà voi oai vệ, đỡ lấy chữ “ tâm” dát vàng lộng lẫy, thì còn gì bằng. Nó sẽ đập ngay vào mắt bất cứ ai khi bước chân vào phòng. Và đương nhiên nhìn cặp ngà voi, nhìn con chữ là thấy sự uy nghi, đáng nể, thưa thầy ”. Nghe cậu ta nói, tôi suýt nữa thì bật cười. Trời đất, chữ tâm mà thể hiện sự uy nghi sao? Cậu ta xin chữ “ tâm” mà tâm cậu ấy lại như thế thì còn gì là tâm nữa.

Thầy Bửu bật cười. Nhưng rõ ràng tiếng cười không thể hiện được cái vui, mà có cái gì ấm ức chất chứa trong tiếng cười ấy.
- Rồi thầy có viết không? - Thoại hỏi.
- Viết. Viết chớ. Nhưng không phải chữ “ tâm” mà là chữ “ đức”. Tôi viết như thế để cậu ta hiểu như thế nào thì hiểu. Nhưng sâu xa hơn thì cậu ấy phải hiểu là “ đức hạnh”. Tôi muốn bảo cậu ấy phải xem lại đức hạnh mình trước. Bây giờ tôi mừng khi thấy đến trường nào cũng có hàng chữ dăng ngang đập vào mắt người ta: “ Tiên học lễ, hậu học văn”. Cậu ta đến xin tôi chữ “tâm” mà chẳng hiểu chữ tâm ấy dùng để làm gì…
- Rồi sao nữa thầy . - Thoại hồi hộp hỏi.
- Cậu ta không đến lấy mà sai cậu lái xe đến lấy. Cậu lái xe chẳng biết ất giáp gì, mang về. Ngày hôm sau chiếc xe du lịch lại đậu ở cửa nhà tôi. Bước chân vào tới cửa cậu ta đã oang oang. “ Sao thầy lại viết chữ này. Thầy làm tôi bị rủa oan. Ông ấy không nhận, biểu tôi kêu thầy viết chữ khác, đúng chữ mà ổng biểu. Thầy viết đi, lát tôi quay lại”. Nét mặt cậu ta hằm hằm. Khổ, gần mặt trời cậu ta tưởng mình cũng là mặt trời chắc. Tôi bảo cậu ta: “ Nhờ cậu về báo lại, tôi chỉ có thể viết một chữ ấy thôi.” Rồi không thấy cậu ấy đến gặp lại tôi nữa. Cám ơn. Viết chữ cho người không đáng viết thì khổ tâm lắm. À này, tôi có nguyên một bài suy ngẫm về chữ đó. Để tôi lấy anh đọc nghe:
Thầy Bửu gác cây mực nho lên thành nghiên, đến bên đống giấy tờ phía góc bàn bên kia, lật một đống giấy tờ và lấy ra một tờ giấy cũng mỏng như tờ giấy mà Thoại đưa cho thầy . Thoại đón lấy. Trên mặt giấy là những con chữ chạy thẳng hàng. Những nét chữ đều đặn, sáng sủa và từng nét rõ ràng:
Mấy triệu năm mông muội/ Mới tìm thấy chữ cho ngừơi/ thế mà thấy/ Có người cứ mang chữ ra mà đùa/ Tưởng như đồ ăn sẵn/ Tưởng như mớ rau, miếng thịt/ Bỏ lên bếp mà nấu, nướng, chiên, xào/ Nên chữ cứ rẻ như bèo./ Lại có người dùng chữ/ Như dùng gái trong nhà thổ/ Đĩ thõa điên cuồng/ Buông ra là quên sạch./ Rồi cũng có người/ Dùng bạc triệu mà đi mua chữ/ Mang về đặt trên bàn thờ/ Coi như linh vật/ Nhưng lại quên cúng kiếng mỗi ngày/ Nên chữ cứ lạnh tanh./ Chao ôi/ Ai biết/ Nếu con chữ ngấm vào người/ Thành xương, thành thịt/ Thành máu thành hồn./ Mới là chữ/ Mới là chữ/ Mới là chữ biết không?

Thầy Bửu tiếp tục câu chuyện:
- Anh thấy không, nhà tôi có hai cái mặt tiền. Nhiều người bảo tôi: thời buổi này phú quý sinh lễ nghĩa, người ta thích chơi chữ, sao thầy không mở một cửa hàng bán chữ để kiếm thêm thu nhập. Không biết người ta sao, chứ tôi thấy bán chữ của mình như bán linh hồn mình vậy. Anh thấy nguyên cái chuyện mài mực để viết chữ này là cả một kỳ khu rồi. Mực không được đặc, không được loãng. Đặc hay loãng đều viết không thành chữ. Bây giờ viết chữ Việt theo lối thư pháp cũng giống như viết chữ Hán ấy. Nét nào ra nét đó. Vui buồn, nóng nảy nó hiện ra nét chữ. Mà nói cho cùng đâu chỉ là viết chữ Hán hay chữ Việt lối thư pháp, chữ thường ngày của mình cũng vậy thôi. Nét chữ nét người mà…

Thoại lạnh người. Một năm anh sài không biết bao nhiêu là chữ. Chữ của mình và chữ của người, nhưng đã bao giờ anh nghĩ mình sài chữ ra sao. Thầy Bửu đã mài xong nghiên mực. Thầy kéo ống đựng bút về trước mặt mình, cúi xuống để mắt có thể nhìn kỹ hơn nhưng cây bút và tìm chọn một cây cho thích hợp. Đã rút ra mấy cây rồi nhưng sau khi vuốt vuốt những búp lông đầu ngọn bút, hình như thầy vẫn không ưng ý. Còn Thoại đã bắt đầu thấy lúng túng vì không còn biết nói chuyện gì với thầy nữa. Trong căn phòng nhỏ không mấy sáng sủa của thầy chỉ có một ngọn đèn. Ánh sáng không vung vãi ra khắp căn phòng, mà chỉ tụ lại trên mặt bàn. Tất cả những gì trên bàn hiện ra rõ mồn một. Lúc mới đến, Thoại ngỡ thầy chất chồng lên bàn đủ mọi thứ khiến cho nó rối lên, lộn xộn. Nhưng khi câu chuyện của thầy càng lúc càng say thì mọi thứ trên bàn kia bỗng trở nên có lớp lang trật tự đàng hoàng. Góc bên dành cho chữ quốc ngữ thì những chồng bản thảo và những tập sách. Góc bên dành cho chữ Hán và chữ Việt theo lối thư pháp thì ống bút, nghiên mực và những tấm giấy đủ kích cỡ. Ngay chính giữa hình như để phân biệt giữa Việt văn và Hán văn, là một bức tượng đồng nhỏ, đứa trẻ mục đồng tay cầm roi đuổi trâu, tay kia nâng một cuốn sách và đang chăm chú đọc. Thầy đã một lần khoe với Thoại, đó là bức tượng học trò đặt đúc, tặng thầy . Không phải mục đồng thổi sáo mà mục đồng đọc sách. Ý thầy là thế mà.
- Anh Thoại này, anh có nhớ trong Chuyện Đông Tây kim cổ của tôi có nhắc đến ông Phạm Quý Thích ở thế kỷ 19 không?
- Thầy viết nhiều quá, tôi không nhớ nổi.
- Cũng phải. Tôi kể và tôi viết nhiều khi còn quên. Nhưng chuyện Phạm Quý Thích thì tôi không quên đâu. Năm 1813, ông nghè Phạm Quý Thích được nhà vua cử làm giám khảo cuộc thi ở Nghệ An. Chấm thi xong ông về dinh nghỉ. Quan lại, sĩ tử đến vấn an ông rất đông. Ông đang đau yếu nên phải dựa gối nằm nghiêng mà tiếp khách. Lúc luận bàn văn chương, ông mới đọc cho những người quanh mình nghe một bài văn ông làm ca ngợi Quan Vân Trường cầm đuốc trong truyện Tam quốc diễn nghĩa. Mọi người nhao nhao khen. Nhất là khi ông đọc hai câu:

Quỷ Tào Tháo bình sinh thẹn muốn chết
Thần tướng quân muôn thuở vẫn như còn.

Có một người bảo với ông rằng, cũng chuyện ấy, ở Nghệ An đã có một cậu bé đã làm một bài văn. Phạm Quý Thích kêu người ấy đọc thử nghe chơi. Nghe đến hai câu:

Nhen lòng son rực rỡ, trời đất năm canh
In chiếc bóng lênh đênh, gió sương bốn vách.

Phạm Quý Thích vội vàng nhổm dậy chắp tay nói với mọi người: “ Cậu bé ấy hơn tôi nhiều”. Cậu bé ấy là Nguyễn Hồng Hàn, mười ba tuổi, ở huyện Can Lộc. Anh Thoại này, anh có biết vì sao ông Phạm Quý Thích lại phục cậu bé như vậy không. Phân tích thì dài nhưng chỉ nói với anh một ý thôi. Phạm Quý Thích phải mượn Tào Tháo mới nâng được Quan Vân Trường lên. Còn Nguyễn Hồng Hàn, chẳng cần hạ ai mà Quan Vân Trường vẫn oai phong lẫm liệt. Nhưng cái này quan trọng hơn: khi Phạm Quý Thích tỏ lòng thán phục cậu bé Hàn thì mọi người càng phục ông hơn. Khiêm nhường làm ông càng thêm cao đạo. Chính vì thế mà tết rồi tôi có làm một đôi câu đối, nhưng chỉ để nhớ nằm lòng thôi, không dám viết ra, sợ người đời nhìn thấy, bảo tôi cao ngạo…

Thầy Bửu đã lựa xong cây bút. Thầy vung tay lên toan hạ xuống chấm vào nghiên mực. Thoại vội đứng dậy đỡ lấy tay thầy:
- Dạ thưa, thôi ạ.
- Cái gì thôi?
- Dạ thôi, thầy đừng viết nữa. Cho tôi xin lại mảnh giấy…
- Sao thế ?
Thoại lẳng lặng không nói thêm lời nào và đưa hai tay, cúi đầu nhận lại mảnh giấy từ tay thầy Bửu.
Lát sau, Thoại chào thầy ra về. Chiếc xe honda của Thoại từ từ lách ra khỏi cổng. Trước ngã ba, Thoại ngưng lại một lát rồi cho xe đi thẳng con đường trước mặt hướng nội ô thị xã Tân An.

Thầy Bửu đứng nhìn theo, gật đầu cười. Trên trán thầy lấm tấm mấy giọt mồ hôi.

Nguyễn Đức Thiện

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2008

Nhà thơ Trần Đăng Khoa


Nói gì thì nói, làng thơ Việt Nam mà thiếu cái dáng thấp đậm của Trần Đăng Khoa thì kể cũng buồn. Tôi ngắm nghía tướng đi của Trần Đăng Khoa nhiều năm, và nhận ra một sự thật: Khi bước lảo đảo thì anh là thi sĩ đích thực, còn khi bước huỳnh huỵch thì anh là cán bộ chân chính.
Trần Đăng Khoa là một tên tuổi ăn khách. Trước đây Trần Đăng Khoa đã nổi tiếng, sau Chân dung và đối thoại càng nổi tiếng gấp bội. Viết gì liên quan đến Trần Đăng Khoa, sẽ được công chúng kỹ lưỡng ngó nghiêng ngó dọc, cho nên từ lâu muốn nói thẳng nói thật một chút về thơ anh, cũng khiến tôi đắn đo rất nhiều.

Dù không thông minh lắm, tôi vẫn có thể biết rằng, muốn "ăn theo" Trần Đăng Khoa, cứ in một cuốn "đánh úp" Chân dung và đối thoại thì có khi còn bán đắt hơn Chân dung và đối thoại, nhọc công làm gì bình thơ với luận thơ. Thế nhưng, sự nghiệp Trần Đăng Khoa là thơ, nghi lễ đầu tiên để Trần Đăng Khoa đến với cuộc đời này là thơ, và câu chuyện cuối cùng nhân gian nhắc đến Trần Đăng Khoa vẫn là thơ. Tôi tin như vậy và kiên nhẫn tìm đọc toàn bộ thơ Trần Đăng Khoa.

Từ nhỏ, tôi đã được học và phải học tác phẩm của Trần Đăng Khoa, vì đó là chương trình bắt buộc trong sách giáo khoa. Lớn lên, khi không còn ai có quyền ép tôi đọc những câu vần vè mà tôi không thích nữa, thì tôi lại tập tin tưởng về một giá trị tương đối ổn định của thơ Trần Đăng Khoa. May mắn có vài dịp đi qua xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, tôi luôn tìm cớ dừng lại rất lâu để ngắm nhìn những bờ ruộng nhấp nhô, những mái nhà thấp thoáng, những hàng tre lập lòa trong bóng chiều nhập nhoạng của một miền quê nghèo, mà tự hỏi: Tại sao nơi này có thể sinh ra được một thần đồng thơ nhỉ?

Quê nhà bé bỏng của Trần Đăng Khoa chẳng khác chi những vùng đất lam lũ dọc theo đất nước ta, chứ có phải địa linh gì đâu để nung nấu khát vọng nhân kiệt. Không thể giải thích bằng tư duy hợp lý, tôi đành tự trả lời theo tâm linh đưa đẩy: Biết đâu năm 1958, Thượng Đế nhàn rỗi đã tản bộ qua đây và rải chút ít bụi thơ xuống bờ bãi sông Kinh Thầy đúng cái ngày bà mẹ hữu duyên trở dạ sinh ra Trần Đăng Khoa.

Đã có quá nhiều nhận định về thơ Trần Đăng Khoa, thái độ chuyên nghiệp cũng nhiều, mà ngọt lạt đãi bôi còn nhiều hơn. Hý trường văn chương nhộn nhịp thời gian gần đây, hơn một lần làm chùng lòng tôi khi ngón tay đã đặt lên bàn phím định gõ những dòng ý kiến cá nhân. Tuy nhiên, vì yêu quý nhà thơ Trần Đăng Khoa, tôi lại bình tâm ngồi xuống lần giở những trang thơ nhấp nháy hào quang thần đồng.

Tròn 40 năm rồi, tượng đài Trần Đăng Khoa đặt giữa "góc sân và khoảng trời" đã vượt qua nắng mưa và giông gió, đã vượt qua hào hứng và thờ ơ, đã vượt qua cả kiểu khen quá lời và câu chê quá khích, để hôm nay kiêu hãnh thách thức lớp người đèo bồng thi tứ kế cận như tôi! Vậy mà, muốn cầm trên tay một bản thơ Trần Đăng Khoa đáng tin cậy cũng không dễ, vì các nhà xuất bản in thơ anh đều ghi ngạo nghễ "thơ chọn lọc", mà tôi không thể biết ai "chọn" và ai "lọc".

Tôi đành thú thật với Trần Đăng Khoa: "Tôi có trong tay khoảng chục cuốn được rao hàng lảnh lót là "tuyển thơ Trần Đăng Khoa", nhờ anh chứng nhận bản in nào là bản chính thức?". Thần đồng thơ dạo nào đã mang hàm Vụ trưởng với chức danh Trưởng ban Văn Nghệ - Đài tiếng nói VN, tuyên bố chắc nịch: "Tớ sẽ gửi cho cậu một bản rất chuẩn!". Và nhân chuyến bay vào miền Nam tìm kiếm tư liệu những nhà ngoại cảm, anh tặng tôi tập "Thơ Trần Đăng Khoa" dày hơn 400 trang, do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành tháng 4/2007. Tôi bắt đầu "khai quật" thơ Trần Đăng Khoa bằng chính bản in này.

Từ khi Xuân Diệu nhón bút viết lời giới thiệu cho tập thơ Góc sân và khoảng trời in lần đầu tiên năm vạn bản, Trần Đăng Khoa đã phải mang vác một cái bóng lồng lộng trên mỗi bước đi chậm chạp. 66 bài thơ trong tác phẩm đầu tay được Trần Đăng Khoa dán cái nhãn "made in Thần Đồng" bay khắp hang cùng ngõ hẻm của đất nước Việt Nam những năm cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ và những năm đầu thống nhất giang sơn. Trần Đăng Khoa như một chú chim non cất cao chất giọng đặc sản nông thôn Bắc bộ líu lo bài ca đặc sản phù sa Bắc bộ "Hạt gạo làng ta/ Có bão tháng Bảy/ Có mưa tháng Ba/ Giọt mồ hôi sa/ Những trưa tháng sáu/ Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy…".

Đây không phải là bài thơ dành để bàn luận hay dở, mà là tác phẩm gồng gánh sứ mệnh một cậu bé có tài thơ được chọn để nói hộ hàng ngàn trẻ em mong mỏi cuộc sống thanh bình. Những câu thơ trên bất kỳ đứa trẻ nào cũng có thể buông ra khỏi vòm họng dễ dàng như hát đồng dao, nhưng lịch sử đã chọn Trần Đăng Khoa. Sự xuất hiện của nhạc sĩ Trần Viết Bính chắp cánh cho Hạt gạo làng ta cũng chỉ là tình cờ. Không có Trần Viết Bính thì sẽ có nhạc sĩ khác, và bài thơ này vẫn lưu danh vì được hỗ trợ yếu tố thời điểm cực kỳ quan trọng. Bây giờ chẳng khó khăn gì để tìm ra một đứa trẻ 11 tuổi viết được những câu, những dòng, những ý hay hơn Hạt gạo làng ta nhưng mãi mãi không thể có "hạt vàng làng ta" thứ hai.

Bằng tất cả cân nhắc, tôi cho rằng, chỉ cần Hạt gạo làng ta thì Trần Đăng Khoa đã có thể ở lại với văn học sử. Thế nhưng, tài thơ của Trần Đăng Khoa lớn hơn phong trào "em vui em hát". Mẹ ốm và Cơn dông là hai bài thơ đủ để người lớn yêu thơ phải ngả mũ chào cậu bé sinh ngày 24/4/1958 vừa rửa sạch đôi tay lấm lem bùn ở cái ao làng Đông Thôn. Với sự khôn lanh ngày càng nảy nở qua từng thế hệ trẻ con, không ít bài thơ trong Góc sân và khoảng trời đang và sẽ bị rơi rụng dần.

Thế nhưng, những đứa trẻ làm thơ nối tiếp như Khánh Chi hay Phan Tuy An không thể nào "tiếm ngôi" Trần Đăng Khoa, vì anh có lá bùa mười bốn chữ "Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng" mà một Đêm Côn Sơn hạnh ngộ "như hồn Nguyễn Trãi năm nào về thăm" đã gửi tặng món quà không bao giờ được nhận lần nữa.

Với bản tính tinh nhạy, Trần Đăng Khoa sớm ngộ ra chất giọng đặc sản bản thân đang sở hữu chỉ phù hợp với vần điệu trẻ con, chứ thế giới người lớn đòi hỏi những cung bậc khác. Anh cúi xuống nhìn hình dong mình thì thấy cái áo trẻ con ngày càng chật chội, mà ngẩng đầu lên thì thấy cái bóng thần đồng vẫn lồng lộng.

Trần Đăng Khoa quyết định đột phá khỏi chiều kích thiếu nhi bằng những cơn vùng vẫy trường ca. Cuộc Đi đánh thần hạn không thành công, còn cuộc điểm danh Làng quê chỉ thấy chen lấn những câu binh nhất, binh nhì mà vắng bặt những câu cấp tướng, cấp tá.

Từ biệt hai trường ca xa xót ấy, Trần Đăng Khoa 16 tuổi cỡi phăng cái áo trẻ con và mượn tạm vài cái áo người lớn để khoác lên mình, dồn chí lao vào trận "tổng tiến công" có ý nghĩa một phen cá vượt vũ môn. Hơi đáng tiếc, dù dùng thơ Tố Hữu, thơ Nguyễn Đình Thi, thơ Xuân Diệu, thơ Chế Lan Viên và thơ ca Xô Viết Nghệ Tĩnh để khởi động náo nức cho mỗi chương, thì trường ca Khúc hát người Anh hùng chỉ còn lại bùi ngùi hai câu ấm áp lòng người: “Mái gianh ơi hỡi mái gianh/ Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”.

Mùa xuân năm 1975 là cột mốc của dân tộc, theo tôi, cũng là một cột mốc để đánh giá thơ Trần Đăng Khoa. Bởi lẽ những bài thơ dù dài dù ngắn của Trần Đăng Khoa viết trước năm 1975 đã hoàn thành vai trò gọi tên một thần đồng thơ. (Sau này Trần Đăng Khoa có sửa những câu thơ như "Chăm ngoan học giỏi/ Là bạn thiếu nhi/ Ngu xuẩn nhất nhì/ Là tổng thống Mỹ" mà nhiều người thắc mắc, thì tôi thấy cũng chẳng phải chuyện để xôn xao. Vì những câu thơ ấy chỉ như thay hàng ria trên mép bằng chòm râu dưới cằm thôi, mà khuôn mặt thần đồng thơ vốn đáng yêu nhờ "mày râu nhẵn nhụi").

Có thể những ai yêu mến Trần Đăng Khoa sẽ có suy nghĩ khác, nhưng tôi vẫn khẳng định: năm 17 tuổi, Trần Đăng Khoa đứng trước một ngã rẽ, hoặc rèn luyện kỹ thuật thanh nhạc để thay đổi chất giọng đặc sản trẻ con, hoặc chấp nhận quá khứ oai hùng ngày xưa đã từng biết hát. Một sự lựa chọn sinh tử bày ra, Trần Đăng Khoa thừa khả năng cách tân ngôn ngữ và hình tượng thơ, nhưng anh vẫn thảnh thơi dùng năng khiếu trời cho để tiếp tục ngân nga chất giọng quen thuộc.

Sự tự tin ấy khiến tôi e ngại đọc tới những bài thơ của chàng trai Trần Đăng Khoa. Những bài thơ Ngày mai ra trận, Thư gửi mẹ, Về làng cứ mờ nhòe giữa dòng thơ lính vốn rất rộn ràng trong nền văn học Việt Nam. Ngay cả những bài Cây phong ba trên đảo Nam Yết, Đồng đội tôi trên đảo thuyền chài, Ghi ở đảo chìm, Cô tổng đài hải đảo... đưa vào rất nhiều địa danh và đặc điểm khơi xa, nhưng tôi nghi ngờ khi Trần Đăng Khoa viết đã quá chú trọng thân phận bộ đội hải quân của mình, nên chức năng thơ tạm dừng ở mức hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền cần thiết.

Còn bài Thơ tình người lính biển tồn tại bấp bênh trên câu thơ "Biển một bên và em một bên" do Tế Hanh cho vay! Hai bài khá nhất trong vệt sáng tác này của Trần Đăng Khoa là Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn và Lính đảo hát tình ca trên đảo hầu như nương tựa vào chất lính ngộ nghĩnh yêu đời, chứ chất thơ thì không thể nào so sánh với bốn câu cùng đề tài được trích ngẫu nhiên trong Gửi từ đảo nhỏ của Hữu Thỉnh: "Mặt trời qua đây về nở với ao bèo/ Đám mây qua đây để thành gà gáy/ Ngọn gió qua đây để thành sóng dậy/ Sóng qua đây thành nỗi nhớ hàng dương".

Nếu Trần Đăng Khoa vẫn điềm nhiên dùng cái đầu tỉnh táo để viết những câu thơ giả giọng Phạm Tiến Duật hay Hoàng Nhuận Cầm thì chắc chắn anh sẽ phải tự đào huyệt chôn danh hiệu thần đồng thơ. Đáng mừng thay, tưởng đã đến lúc tôi sử dụng câu thơ "Bao thần tượng ta tôn thờ cung kính/ Mưa nắng bào mòn còn trơ lõi đất thôi" mà Trần Đăng Khoa viết khi đang học ở Trường viết văn Gorki, để ngậm ngùi tiễn biệt anh khỏi làng thơ, thì hồn thơ của anh lại trở về.

Không ồn ào cũng không bóng bẩy, Trần Đăng Khoa "tam thập nhi lập" dọn lên bàn tiệc thơ duy nhất một món tỉ tê. Có lẽ thấm thía nỗi bất lực "đôi lúc ta buồn quá/ muốn hát một câu chơi/ nhưng ta chưa cất giọng/ con vẹt đã hót rồi" nên câu thơ nào của Trần Đăng Khoa cũng rón rén như nói thầm vào tai.

Và dẫu tỉ tê thì Trần Đăng Khoa vẫn bị áp lực thần đồng, nên thơ anh lúc say lúc tỉnh. Ví dụ, bài lục bát Qua Xuđan, anh vừa chớm say câu sáu "Thành xưa đổ bóng vào trời" thì lập tức tỉnh rụi câu tám "Khói sương lãng đãng - Một thời đã xa", khiến cảm xúc cứ thậm thụt, hại cả tác phẩm trơn tuột giá trị thẩm mỹ. Hơn nữa, Trần Đăng Khoa đặc biệt có một khoảng trắng ở mảng thơ tình, mà có lẽ ngày xưa đưa Trần Đăng Khoa đến ra mắt Nàng Thơ, "ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu quên dúi "bí kíp" vào tay học trò. Tôi cam đoan, ai lơ mơ đem bài thơ Gửi em ở Ninh Bình của Trần Đăng Khoa để tán tỉnh các cô gái Tam Điệp hay Hoa Lư cũng đều thất bại lập tức.

Nói gì thì nói, làng thơ Việt Nam mà thiếu cái dáng thấp đậm của Trần Đăng Khoa thì kể cũng buồn. Tôi ngắm nghía tướng đi của Trần Đăng Khoa nhiều năm, và nhận ra một sự thật: Khi bước lảo đảo thì anh là thi sĩ đích thực, còn khi bước huỳnh huỵch thì anh là cán bộ chân chính. Bài thơ Ở nghĩa trang Văn Điển có thể xem như minh chứng rõ nét nhất. Trần Đăng Khoa lảo đảo đi qua hai khổ thơ đầy tâm trạng: "Người hạnh phúc và người đau khổ/ Đều gặp nhau trắng toát ở nơi này/ Đều dài rộng như nhau vuông cỏ biếc/ Đều ấm lạnh như nhau trong hơi gió heo may/ Ôi thiên nhiên, cám ơn người nhân hậu/ Những so le, người kéo lại cho bằng/ Ít nhất cũng là khi nằm xuống/ Trong mảnh gỗ rừng, dưới một vầng trăng".

Theo tôi, dừng tại đây đã có được một bài thơ khá hay. Khổ thân, Trần Đăng Khoa đột nhiên lấy lại thăng bằng, anh không bước lảo đảo nữa mà bước huỳnh huỵch thêm… mười khổ thơ, như một vị cán bộ có cơ hội thuyết trình trước đám đông đã tranh thủ nói cho hết mấy phút ưu tiên của mình, với kết luận trịnh trọng: "Trước mặt ta là hàng hàng bia đá/ Nói với ta: Hãy thương lấy Con Người". Ôi, Trần Đăng Khoa định dùng lắt léo và mưu mẹo để chuyển tải một thông điệp to tát, nên anh chia Ở nghĩa trang Văn Điển thành hai loại thơ, hai khổ đầu là thơ-ưu-tư còn mười khổ sau là thơ-diễn-đàn.

Trong những sáng tác gần đây của Trần Đăng Khoa, nhiều người hoan nghênh Gửi bác Trần Nhuận Minh, nhưng theo tôi, đây là bài thơ tự sự bình thường, chỉ cất lên được một chút ở hai câu cuối "Thung thăng em với bác/ Ta cưỡi thơ ra đồng". Trường hợp khác, bài Mùa xuân của lính biên phòng, tôi bắt gặp Trần Đăng Khoa bước lảo đảo đôi lần "Đất trời bồng bềnh men rượu/ Em từ mây trắng bước ra" và "Ta cũng trẻ như trời biếc", chứ những câu còn lại đều được bước trang nghiêm lắm, lịch sự lắm.

Nếu chọn một bài để khẳng định Trần Đăng Khoa sau năm tháng thần đồng đang bước lảo đảo về miền thi ca, thì tôi chọn Đỉnh núi. Thể thơ ngũ ngôn gập ghềnh, giúp những bước lảo đảo của Trần Đăng Khoa bộc lộ đầy đủ phẩm chất thi sĩ. Không thể nói khác hơn, Đỉnh núi là một điểm nhô lên giữa những mô, những gò, những đồi của thơ Trần Đăng Khoa thời vất vả làm người lớn. Đỉnh núi khi tình lúc cảnh, khi ray rứt phận người lúc miên man nghĩa nước, mà tôi không thể nào cưỡng lại được mong muốn dùng trọn vẹn hai mươi câu thơ để kết thúc bài viết này:

"Ta ngự giữa đỉnh trời/ Canh một vùng biên ải/Cho làn sương mong manh/ Hóa trường thành vững chãi/ Lán buộc vào hoàng hôn/ Ráng vàng cùng đến ở/ Bao nhiêu là núi non/ Ríu rít ngoài cửa sổ/ Những mùa đi thăm thẳm/ Trong mung lung chiều tà/ Có bao chàng trai trẻ/ Cứ lặng thinh mà già/ Áo lên màu mốc trắng/ Tóc đầm đìa sương bay/ Lời yêu không muốn ngỏ/ E lẫn vào gió mây/ Bỗng ngời ngời chóp núi/ Em xòe ô thăm ta?/ Bàng hoàng xô toang cửa/ Hóa ra vầng trăng xa…"


Lê Thiếu Nhơn

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2008

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp


Trong buổi giao lưu với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tại Trung tâm Văn hoá & Ngôn ngữ Đông Tây, hàng loạt câu hỏi đã được gửi tới nhà văn, không chỉ giới hạn trong cuốn Giăng lưới bắt chim mà cả trong hệ thống tác phẩm của ông, các quan điểm của ông. Những câu trả lời của Nguyễn Huy Thiệp rất thông minh, hóm hỉnh, tuy thỉnh thoảng ông mải nghĩ mà quên mất câu hỏi ban đầu là gì. Nhưng điều đó chẳng có gì quan trọng, trong những câu trả lời của ông người nghe thu được nhiều điều rất lý thú.

Có phải vì Nguyễn Huy Thiệp không viết được văn nữa nên mới chuyển sang viết tiểu luận không? Vì sao cuốn sách có tên là Giăng lưới bắt chim?
Tôi làm việc ở Tây Bắc mất 10 năm, sau mới về Hà Nội. Lúc đó tôi ngây thơ và đầy tham vọng. Tôi đam mê văn chương và lúc đó cũng sứt đầu mẻ trán khi hoà nhập văn đàn. Tôi lang thang qua nhiều toà báo, các nhà xuất bản và hiểu ra sự khó khăn của văn học. Nhưng tôi không nản vì thời gian ở miền núi đã cho tôi độ trưởng thành nhất định. Hồi đó tôi cũng quyết liệt. Tôi đã tìm hiểu các nhà văn đi trước xem họ sống và viết như thế nào. Tôi đọc từ Hồ Biểu Chánh, đến các nhà văn thời 30-45 như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng..., các nhà văn thời chống Pháp, chống Mỹ như Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Thi..., các nhà văn thời đổi mới như Nguyễn Khải...Và tôi nhận ra là không thể đi theo con đường của họ được.
Ngay từ những sáng tác đầu tiên tôi đã hình thành lý luận cho bản thân, các bài lý luận của tôi đăng rải rác trên các báo. Sau tôi tập hợp các bài viết và cho ra tập tiểu luận này.

Giăng luới bắt chim là một tích có trong sách Phật. Văn học là sự cắt nghĩa sự sống. Các nghề khác thì không làm được hoặc là không muốn làm. Cho nên nó là một nghề đầy thị phi, điều tiếng. Lúc đầu tôi bước vào văn học cũng vì những mưu mô công danh, tôi cũng ngây ngô, nhiều tính xấu, lại tham vọng, nhưng sau tôi hiểu viết văn cũng chính là quá trình sống, giải thích cuộc sống, cắt nghĩa và phân tích nó...Tôi hiểu ra: văn chương gần với đạo. Thế thì con chim ở đây chắc là con chim... chân lý (nhà văn cười).

Nguyễn Huy Thiệp viết tiểu luận phê bình có phải để tung hoả mù không? Hay đó có phải là phương pháp viết tiểu luận của Giăng lưới bắt chim không?

Không tung hoả mù. Vũ trụ là hỗn độn- đấy là một chân lý quan trọng nhất của đời sống. Và chúng ta luôn tìm cách xây dựng những trật tự nhỏ: trật tự anh em, trật tự bè bạn, trật tự gia đình, trật tự bồ bịch (khán giả cười)...Khi trẻ thì người ta tôn trọng trật tự hơn. Khi người ta lớn lên, già đi, nhiều tri thức, trải nghiệm, người ta hiểu ra chân lý đó, và chấp nhận, thì người ta ít coi trọng trật tự hơn.

Ông đã từng nói: có được thì có mất. Cái được của Nguyễn Huy Thiệp thì ai cũng thấy. Vậy Nguyễn Huy Thiệp đã mất gì?

Sống là mất đấy chứ. Sống là suy đồi, là tiến đến cái chết. Sống không phải là một quá trình gặt hái. Ai cũng sinh ra như tiên cả, trong sáng, thánh thiện, nhưng rồi những va chạm, ăn uống, đi lại, quan hệ, bệnh tật,... người ta tồi tệ đi, đểu đi, hư đốn đi, già đi...

Ông có nói là vừa thích vừa không thích văn Đỗ Hoàng Diệu...

Phải nói là cô ta rất táo bạo. Viết sex khó lắm, không cẩn thận là thành “con heo” ngay. Đỗ Hoàng Diệu đã vượt qua cái đó, và nói được một chút gì đó về thế hệ trẻ, cái thế hệ đau khổ, nó phải hứng chịu áp lực tình dục của cả xã hội, của cả lịch sử... Theo tôi sex rất quan trọng, nó là cội nguồn của tất cả. Tôi muốn nói không phải danh dự, đạo đức, tiền bạc..., sex và những hệ luỵ của nó mới là quan trọng nhất. Thậm chí không phải là tổ quốc.
Còn tôi chê Đỗ Hoàng Diệu là vì cô ta viết chưa hay.

Có ý kiến cho rằng ông không làm được thơ nên phải đưa thơ vào văn xuôi...
Tôi có nhiều duyên nợ với thơ. Trong cuốn Giăng lưới bắt chim tôi chia ra ba loại nhà thơ, thì loại thứ nhất, tức là loại ngộ năng là tuyệt vời nhất. Tôi thì qua cái lúc đó rồi. Như trường hợp Vi Thuỳ Linh, tập thơ đầu thì tôi thích, đến Đồng tử thì không thích nữa

Vì sao vậy?

Vì nó không còn vô tư, hồn nhiên, không phải là ngộ năng nữa, nó như là một tuyên ngôn để lấy chồng của cô ta.

Ở bài viết về Vi Thuỳ Linh trong tập tiểu luận, ông có nói là không thích thơ tự do, tại sao?

Tôi được dạy dỗ bằng thơ từ nhỏ. Ông tôi bắt tôi học thơ Đường, tôi phải dịch thơ Đường nữa, rồi tôi được dạy về thơ lục bát...Thế nên quan niệm về thơ của tôi tương đối bảo thủ. Tôi coi thơ là mẹ của mọi thể loại nghệ thuật. Mẹ thì phải bảo thủ chứ. Mỗi dân tộc có một kiểu thơ truyền thống riêng, ở Pháp là xonnê, ở Nhật là haiku, ở Trung Quốc là thơ Đường, và ở Việt Nam là lục bát. Tôi không thích thơ tự do vì tôi cảm thấy thế thôi, tức là cảm thấy nó tồi tệ. Nó tôn vinh tinh thần bình dân. Trong văn học phải phỉ báng tinh thần bình dân. Cuộc sống, đi lại, ăn uống, gặp gỡ, những thứ linh tinh..., tất cả làm chúng ta bình dân đi. Văn học nghệ thuật lại luôn mơ mộng, đòi hỏi những cái sang trọng. Chúng ta đã nhân danh bình dân quá nhiều.

Bây giờ đã có rất nhiều nhà văn mới xuất hiện, sách văn học in ra ngày càng nhiều, vậy thương hiệu Nguyễn Huy Thiệp có còn bán được nữa hay không?

Tôi là một trong số ít người năm nào cũng có sách ra, không xuất bản thì là tái bản, trong nước và ngoài nước. Nhưng kinh tế thị trường ở ta còn mới mẻ quá, người ta rất lúng túng trong tổ chức xuất bản, in ấn, phát hành, điều đó hạn chế tới việc xây dựng thương hiệu, ảnh hưởng tới viết lách của các nhà văn. Khi tôi quay sang viết tiểu thuyết thì việc xin giấp phép rất chậm. Ví dụ tiểu thuyết Tuổi 20 yêu dấu tôi viết từ năm 2003, ở Pháp và sau đó ở Mỹ đã in. 4 nghìn cuốn ở Pháp cũng đã bán hết, còn ở Việt Nam thì chẳng thấy đâu. Cuốn Tiểu long nữ đáng lẽ cần phải in ra cách đây 3 năm sẽ rất có tính thời sự và có khả năng tác động xã hội. Vậy mà bây giờ mới in. Về phía mình thì tôi vẫn làm việc thôi, còn thương hiệu như thế nào cũng khó nói trong một hoàn cảnh khách quan như thế này.

Ông nói là cuộc sống rất hỗn độn và chúng ta cố gắng sắp xếp nó trong những trật tự. Tiểu luận của Nguyễn Huy Thiệp có phải là một sự sắp xếp không? Sắp xếp văn học hay sắp xếp cái gì?

Sắp xếp nội tâm của tôi. Cuộc sống của chúng ta ngắn kinh khủng. Có 60 năm thì ta mất 30 năm vào việc ngủ, 10 năm thơ ấu, 10 năm tuổi già, chỉ còn lại 10 năm cho mình là cùng. Con người phải tìm cách chấp nhận. Tôi xây dựng trật tự nội tâm của mình, để cho mình chứ chẳng trông mong gì ở bên ngoài...

Nguyễn Hoàng Diệu Thuỷ

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2008

Làng thơ và những người nông dân thi sĩ


Chỉ còn một ngày nữa là Ngày thơ Việt Nam lần thứ 6 lại đến. Không ít người đang quan tâm xem Ngày thơ lần này sẽ được tổ chức như thế nào: Thả thơ lên trời hay bình thơ, thi viết thư pháp thơ hay thi đối, sân thơ trẻ có làm được gì xuất thần không… Với cá nhân tôi, những nội dung nói trên chỉ là việc phụ. Việc chính là Ngày thơ nhắc cho chúng ta biết rằng: Thơ ca là một cái gì đó tuy thật mơ hồ nhưng vẫn cần cho đời sống này.

Ngày thơ chỉ là một ngày hội. Nơi các nhà thơ và bạn đọc đến đó để hy vọng thấy rằng thơ ca vẫn là một sản phẩm văn hóa tối cao trong đời sống quá nhiều bi kịch của con người.

Lúc này đây, tôi lại nhớ đến một sự kiện đặc biệt của Ngày thơ lần thứ 5. Đó là việc làng Chùa, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, một làng được các nhà thơ và người yêu thơ gọi là Làng Thơ Việt Nam, đã tổ chức Ngày thơ lần thứ 5 trong chính ngôi đình của làng. Hơn 300 nhà thơ và những người yêu thơ từ nhiều nơi đã tới làng Chùa trong Ngày thơ ấy. Chiêng trống đã nổi lên, trầm hương đã đốt, những người nông dân làm thơ làng Chùa cùng các nhà thơ đã đọc thơ về đất đai xứ sở mình, về con người và về hạnh phúc.

Trong một chuyến về thăm làng Chùa, nhà thơ Nguyễn Trác, nhà thơ Nguyễn Đức Quang, nhà thơ Đỗ Hoàng và một số nhà thơ của Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tây đã có sáng kiến tổ chức Ngày thơ ở làng Chùa. Có một người làng Chùa hỏi tôi tại sao các nhà thơ danh tiếng lại chọn làng Chùa để tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5? Để trả lời câu hỏi này, xin bạn đọc cho tôi được viết đôi dòng về những người nông dân yêu thơ và làm thơ ở cái làng nhỏ bé và như rất xa xôi ấy.

Trong Lời chào mừng các nhà thơ và các quý khách về dự Ngày thơ tổ chức tại làng Chùa, ông Lê Xuân Dân, một người làng Chùa, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Sơn Công có viết: “Trên cổng làng xưa của làng Chùa có ghi bốn chữ: Vọng Tự Nhập Xuất (nhìn chữ để biết việc ra vào. Chữ ở đây là văn hóa. Chỉ có văn hóa mới giúp con người biết hành xử với cuộc đời). Cổng làng xưa không còn nhưng bốn chữ ấy mãi mãi dựng lên trong tâm hồn và ý thức người làng Chùa ngôi đền của văn hoá và tinh thần sống. Vọng Tự Nhập Xuất chính là khát vọng được hiểu biết và được khai mở để thấu được lẽ làm người. Một trong những lẽ làm người là lẽ làm thơ. Bởi thế mà người làng Chùa nói: “Nước sông Đáy lúc đầy lúc vơi, nhưng chỉ một dòng chảy ra Biển cả. Thơ người làng Chùa khi nồng khi nhạt nhưng lòng luôn hướng về Đạo lớn”. Và tôi hiểu: Đạo lớn chính là Đạo làm người vậy.

Trước kia làng Chùa có một Tao đàn thơ. Những người tham gia Tao đàn này có cả những cụ đồ nho và cả những người nông dân. Thậm chí có cả những người nông dân không biết chữ nhưng “xuất khẩu thành thơ”. Tôi nghĩ đây cũng chính là một trong những đặc tính rất riêng biệt của tiếng Việt. Trong đó, nhạc tính là một yếu tố rất quan trọng cộng với tâm hồn phương Đông của họ đã làm cho họ gần với thơ. Sau này Tao đàn thơ làng Chùa phải ngưng hoạt động và cho đến mãi sau này mới hoạt động trở lại với một tên gọi khác Hội thơ làng Chùa. Chủ tịch Hội thơ làng Chùa đầu tiên là ông Nguyễn Đức Thịnh còn gọi là ông Hàn Thịnh. Tôi đã hỏi một số người già của làng Chùa vì sao lại gọi ông Nguyễn Đức Thịnh là ông Hàn. Những người già nói ông Thịnh được Vua Bảo Đại phong danh là Hàn lâm Viện sỹ vì ông là một thợ may đã từng đoạt Huy chương Vàng Hội chợ Đông Dương cho những thiết kế thời trang ngày ấy và đã có công may những bộ quần áo rất đẹp cho Bảo Đại và Hoàng hậu. Sau khi Cách mạng thành công, ông Hàn Thịnh đã ủng hộ Chính quyền mới nhà cửa và tiền của của mình ở Hà Nội và trở về quê sinh sống. Ông chỉ mang theo ông về quê ba thứ: Chiếc xe đạp máy hiệu Rolex, chiếc máy khâu singe và một bộ uống trà cổ. Buổi sáng ông uống trà bằng bộ uống trà cổ và đọc sách Thánh hiền. Buổi chiều, ông thường mặc một bộ quần áo lụa chống ba-toong đi dạo. Ông sống tằn tiện và vất vả như mọi người nông dân trong làng. Nhưng phong thái của một người lịch lãm và hiểu biết trong ông không hề phai mờ.

Tôi còn nhớ năm 1982, khi nhà thơ Phạm Tiến Duật về làng tôi nói chuyện thơ, làng đã căng một tấm băng rôn với dòng chữ: Kính chào doanh thơ Phạm Tiến Duật. Chữ Doanh thơ là chữ của ông Hàn. Đêm ấy, hầu hết những người nông dân làng Chùa đã mang đèn dầu ra sân đình ngồi nghe nhà thơ Phạm Tiến Duật nói chuyện thơ. Ngày ấy làng tôi chưa có điện. Đấy là một đêm kỳ lạ trong ký ức của tôi. Một đêm mùa hạ đầy tiếng côn trùng và tiếng cuốc kêu từ cánh đồng gần đó vọng về. Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã nói về tâm hồn người Việt trong ca dao dân ca và những bài thơ trong những năm chiến tranh chống Mỹ. Đêm ấy người làng Chùa thức cho tới gần sáng. Họ như gặp được kẻ tri âm. Lúc đó, tôi đã bắt đầu hiểu sức mạnh của thơ ca huyền diệu như thế nào.

Cũng từ ngày đó, người làng tôi không ai bảo ai đều coi nhà thơ Phạm Tiến Duật là công dân thơ danh dự đầu tiên của họ. Sau này là các nhà thơ Nguyễn Duy, Y Phương, Trần Ninh Hồ... và bao nhà thơ khác cũng đã đặt chân lên cái làng nhỏ bé ấy. Khi nhà thơ Phạm Tiến Duật trở về Hà Nội, người làng Chùa tiễn ông ra tận mặt đê và lúng túng trao cho ông một túi quà quê. Và cũng từ đó, Phạm Tiến Duật trở thành công dân danh dự của làng. Ngày nhà thơ Phạm Tiến Duật tạ thế, một số người đại diện cho làng Chùa đã dậy từ khi gà chưa gáy đến viếng nhà thơ.

Thú thực, tôi chưa bao giờ viết một chữ nào về những người nông dân làm thơ làng Chùa. Bởi tôi thấy họ làm thơ như là một lẽ sống giản dị từ hàng trăm năm nay, như họ đã cày cấy và gieo trồng, như họ đã khổ đau và hạnh phúc, như họ đã sinh ra và biến mất trên chính đất đai của họ. Tôi không viết về việc yêu thơ và làm thơ của họ bởi tôi sợ chạm vào thì một cái gì đó sẽ biến mất. Đây là một ý nghĩ thiển cận và có tính “tư hữu”.

Làng Chùa chỉ cách Hà Đông chưa đầy 30 cây số. Hầu như tuần nào tôi cũng về quê. Và những đêm ở quê, tôi thường được nghe chương trình thơ của những người nông dân làng tôi trên hệ thống loa phát thanh của làng. Trên đường làng, đôi khi tôi dừng lại bởi một người nông dân muốn đọc cho tôi nghe một bài thơ mới làm và muốn tôi góp ý. Sự thật là tôi chưa góp ý được bao giờ. Bởi đó vừa là một bài thơ vừa không phải là bài thơ. Có một điều gì đó còn xúc động và ý nghĩa hơn một bài thơ của tôi mà tôi đã nhiều lúc dày công suy ngẫm và sửa chữa. Không có một người nông dân nào của làng tôi có ý định trở thành nhà thơ mặc dù họ luôn luôn tôn vinh đầy xúc động và chân thành những nhà thơ họ gặp. Tôi là một nhà thơ và tôi được nhận quá nhiều ân hưởng từ những người nông dân làng tôi mà đúng ra tôi không đáng được hưởng nhiều như thế. Tôi nhớ chừng 20 năm trước, trong một ngày Hội làng, một người nông dân làng Chùa đã đọc diễn văn khai mạc có đoạn viết : Ngày xưa nhiều nơi Hội làng thì mổ lợn, uống rượu và chơi cờ bạc, còn làng ta trong ngày Hội làng thì đốt trầm đọc thơ. Mừng thay, mừng thay đất làng ta sinh ra những thi sỹ. Những người nông dân làng tôi làm thơ để được sống, được bày tỏ và chia sẻ trong những ngôi nhà hai mái giản dị của họ chứ đâu để đợi chờ được ngợi ca. Chính vì thế mà họ truyền tình yêu thơ ca từ đời này đến đời khác như truyền cách yêu con người, yêu đất đai, yêu công việc cày cuốc và gieo hạt. Việc yêu thơ và làm thơ của họ là như vậy. Và không ít lần khi tôi nghĩ đến tình yêu thơ ca của họ, tôi, một nhà thơ, không thể không cảm thấy chút gì đó lúng túng và đôi khi xấu hổ.

Trước ngày thơ, ông Lê Xuân Sủng, Trưởng thôn có gọi điện cho tôi nói rằng người làng sẽ làm hai món ăn truyền thống để tiếp đãi các nhà thơ và các quý khách về dự Ngày thơ. Đó là món oản chấm chà (chà là mật mía nấu với cánh hồi và quế) và bánh tẻ. Đấy chính là hai món ăn mà trước kia các cụ trong Tao đàn thơ của làng Chùa thường dùng khi sinh hoạt Tao đàn. Suốt mấy ngày trước Ngày thơ, người làng Chùa gọi nhau quét dọn làng xóm, làm cây đèn truyền thống, chọn lựa cây cảnh của các gia đình để bày ở sân đình, luyện tập văn nghệ, giã gạo nếp làm oản và phân công say bột chuẩn bị làm bánh, chọn lựa những câu nói của người làng Chùa để đưa lên pano, băngrôn, chọn lựa người tham gia đọc thơ trong Ngày thơ, lo làm cỗ tiếp khách…

Tôi có nhiều mơ ước. Trong đó có cả mơ ước sẽ được chết như thế nào. Bởi ai rồi cũng đi đến ngày ấy. Tôi ước mơ cái ngày tôi trút hơi thở cuối cùng, tôi sẽ được nằm trong ngôi nhà ông nội tôi đã hình dung trong mười năm và xây lên mà cha tôi vẫn giữ được cho đến bây giờ. Mặc dù tường và ngói của ngôi nhà không còn như cũ bởi bị bom ném hai lần thổi bay hết. Nhưng bốn cột gỗ không hề suy chuyển và giữ vững toàn bộ khung nhà bằng gỗ xoan đào ngâm. Tôi sẽ nằm thanh thản trong ngôi nhà đó và được nghe những người nông dân làng tôi đến ngồi quanh tôi đọc những bài thơ của họ về cánh đồng, dòng sông, về những ngôi nhà của làng, về những vụ gặt, về những con chó hay sủa đêm, về những ngôi sao xanh của những tối thu… Những bài thơ lúc đó sẽ trở thành những Thánh ca nhỏ. Và tôi không có từ gì khác để nói về những bài thơ như thế nữa.

Nguyễn Quang Thiều

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2008

Thơ gửi người em gái phương xa


Ngày xuân chợt nhớ người phương xa
Nơi ấy giờ em chẳng có hoa
Chỉ có phòng thơm, niềm cô lẻ
Tháng ngày đằng đẵng, đếm xuân qua

Tôi chỉ xin làm chút nắng thôi
Và gom ánh nắng tới em tôi
Rồi rót vào em từng giọt ấm
Ngọt ngào da thịt cháy đôi môi

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2008

Bài thơ khai bút đầu xuân Mậu Tý


Xuân sang rạo rực cùng dân tộc
Tự hào con cháu giống Tiên - Rồng
Góp sức dựng xây nền văn hiến
Quyết chí bền lòng với núi sông

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2008

Bơ vơ


Gửi Em

Em đã làm thơ anh họa thơ
Bơ vơ hai kẻ nối hai bờ
Em sang bên ấy mành trăng rủ
Anh ở bên này nhện nhả tơ...

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008

Mộng


Ngoài kia gió có lạnh không em?
Giờ anh mộng mị với hương quen
Làm sao đem nắng xua băng giá
Để được gần em suốt đêm đen

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2007

Không đề


Tặng Em

Em đi sáng cả trời chiều
Tim anh rực cháy lửa thiêu đốt lòng
Hà thành mùa đã vào đông
Hình em nhuộm ánh lửa hồng đời anh

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2007

Cảm tác ở Huế


Anh hẹn tôi gặp nhau ở Huế

Ngâm thơ uống rượu chốn chân quê

Có em thôn nữ dòm khe cửa

Xao xuyến lòng ai chẳng muốn về

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2007

Em có phải là Diễm ngày xưa?




< name="baseURL" value="">




Chút rung cảm khi nghe bài hát “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn

Tầng tháp đìu hiu thoáng mưa bay
Dấu xưa người cũ vẫn còn đây
Rơi rụng chiều tàn anh nhặt bóng
Xác xơ đá sỏi lạnh đôi tay

Có phải em là Diễm ngày xưa?
Để anh chờ mãi dáng thu mơ
Mưa ướt tim anh từng giọt đắng
Em ơi ! đừng phụ kẻ trong mưa

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2007

Vài nét về nghệ thuật cải lương


Nhà sinh vật học người Anh Thomas Huxley (thế kỉ 19) từng nói rằng người làm khoa học mà không biết đến văn hóa nghệ thuật thì chẳng khác gì một cỗ máy. Tôi rất đồng tình với ý kiến trên. Theo tôi, một con người nếu không biết, không nhớ, không yêu văn hóa nghệ thuật truyền thống thì có lẽ anh/chị ta không thể lớn nổi thành Người được. Cha ông đã để lại cho chúng ta những di sản văn hóa nghệ thuật vô giá, trong đó có nghệ thuật cải lương. Cải lương là bộ môn nghệ thuật ra đời sau các môn như: ca trù, chèo, tuồng, quan họ, nhã nhạc cung đình, hát ví,... nhưng đã có một đời sống vô cùng phong phú, dẻo dai, mãnh liệt trong lòng những người dân Việt.

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2007

Biển vắng

Thơ: Trịnh Thanh Sơn
Trình diễn: Kim Dung


Rơi chiều vàng ngơ ngác sóng

Xin đừng dõi chi chân trời

Anh ngồi im chìm chiếc bóng

Chén này biển với mình thôi!

Một cộng với một thành đôi

Anh cộng cô đơn thành biển

Nắng tắt mà người không đến

Anh ngồi rót biển vào chai.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2007

Cảm nhận về một bài thơ của Đồng Đức Bốn

Tôi đọc thơ Đồng Đức Bốn khá muộn, hơn một năm sau khi nhà thơ đã qua đời do căn bệnh ung thư quái ác. Nhưng những bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn cứ ám ảnh tôi mãi, giống như bị bỏ bùa mê thuốc lú của một người con gái mà mình không thể nào dứt ra được. Tôi như một kẻ độc hành trên sa mạc tìm được nguồn nước cứu sinh khi đọc thơ ông. Phải công nhận rằng, sở trường của Đồng Đức Bốn là thơ lục bát. Nói như nhà thơ Trần Đăng Khoa, nếu coi bậc thợ kim hoàn cao nhất là 7/7 thì Đồng Đức Bốn được xếp vào bậc 9/7. Ông viết trên 500 bài thơ lục bát, trong đó có khoảng vài chục bài thơ được liệt vào hàng tuyệt đỉnh. Thơ lục bát của ông có một nét riêng, rất quyến rũ, từ tốn, chậm rãi, khiến người ta có cảm tưởng như những câu ca dao, những câu nói bình thường trong đời sống hàng ngày. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp quả đã không ngoa khi cho rằng Đồng Đức Bốn là nhà thơ lục bát kỳ tài của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, khoảng hơn chục sáng tác của ông là tài tử vô địch, còn phần nhiều lại chẳng ra gì [1].

Trong số những bài thơ lục bát tài tử vô địch của ông, bài thơ làm tôi nhớ nhất và đau đầu nhất vì khó hiểu chính là bài "Vào chùa" [2].

Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày

Mới đọc qua, ta cảm giác bài thơ lục bát này có gì đó tầm thường, rỗng tuyếch. Vỏn vẹn 28 chữ, mà cũng chẳng đặc sắc nếu xét về mặt niêm luật thơ lục bát. Nếu nói nghiêm khắc, bài thơ này hỏng về mặt gieo vần cũng như luật thơ. Thứ nhất, ở câu đầu tiên, chữ thứ hai và chữ thứ tư cùng vần bằng với nhau (trưa-mày), trái với luật bằng trắc trong thơ lục bát. Thứ hai, bài thơ bị điệp vận (trùng vần) ở câu thứ hai và câu thứ tư (đi-đi). Như vậy, chỉ có bốn câu lục bát mà đã mắc tới hai lỗi về gieo vần và luật bằng trắc thì làm sao mà thành một bài thơ hoàn chỉnh được. Bài thơ này nếu mà rơi vào tay những nhà phê bình chỉ chăm chăm đi xem mặt chữ để bình phẩm giá trị nghệ thuật thì sẽ bị chê cho tới số. Một người nước ngoài học tiếng Việt ở trình độ sơ cấp chắc là cũng dịch được tốt bài thơ này.

Vậy thì, bài thơ này tuyệt đỉnh ở chỗ nào?

Tôi chợt nhớ tới những bài thơ (hay văn) không có chữ như có lần Trần Đăng Khoa đã từng nói [4]. Không có chữ ở đây nghĩa là bản thân những con chữ bạc phếch kia, tự nó sẽ chẳng là gì nếu ta không thổi hồn thơ vào trong đó, và khi đọc hay bình phẩm những bài thơ không có chữ, nên đọc bằng trực giác nhiều hơn là đọc bằng lý trí. Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, có thể bắt gặp một số ít nhà thơ như vậy. Chẳng hạn, trong thơ Bùi Giáng, thơ Hàn Mặc Tử, thơ Lê Đạt... có rất nhiều bài là thơ không có chữ. Thậm chí, có người còn nói đó là những bài thơ điên, vì toàn những gầm rú, la hét, điên loạn,.. chẳng có vần điệu tối thiểu của thơ gì cả. Thực ra thì những bài thơ này đâu có điên loạn như mọi người nghĩ. Chẳng qua là những bài thơ đó được viết ra bằng một thứ được gọi là tư duy vô trí, khi sáng tác nhà thơ không cần quan tâm đến đến cấu trúc thơ, luật thơ ra làm sao mà chỉ cần có một ý tưởng bất chợt lóe lên trong đầu là họ chộp lấy và ghi ra giấy. Họ cũng chẳng cần sửa chữa gì nhiều đối với những bài thơ này. Làm thơ kiểu này khó vô cùng và vì thế, có rất ít nhà thơ có thể sang tác theo kiểu tư duy vô trí được. Những bài thơ không có chữ như vậy không thể hiểu, chỉ cảm nhận được mà thôi, cũng giống như không khí xung quanh chúng ta vậy, có ai nhìn thấy được nó bao giờ đâu mặc dù có thể cảm nhận được nó.

Quay trở lại với bài thơ lục bát này. Theo tôi, đây cũng là một bài thơ không có chữ.

Đang trưa ăn mày vào chùa

Câu thơ nêu lên một sự việc có vẻ lạ đời. Tại sao ăn mày lại vào chùa, và lại vào lúc đang trưa? Nếu chỉ để tìm kiếm cái ăn, sao anh ta không đi đến nơi chợ búa, cửa hàng ăn uống vốn có nhiều thức ăn hơn? Đây là một sự vô tình hay hữu ý của kẻ ăn mày. Tôi đã phải đọc đi đọc lại câu này cả chục lần mà cũng vẫn chưa tìm ra được lời giải thích hợp lý. Tuy vậy, tôi có thể cảm nhận được những cặp từ đối lập “ăn mày – chùa” phải chăng chính là “vô minh – cao minh” theo triết lý nhà Phật. “Đang trưa” ở đây có phải là “nửa đời người” không?

Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Đến câu này, sự việc có vẻ rõ ràng hơn. Ăn mày đứng ở chùa mãi không ai cho ăn gì nên có nhà sư thương tình ra cho một lá bùa, có lẽ để “đuổi khéo” kẻ ăn mày đi cho khỏi ô uế nơi cửa Phật, vốn là nơi thanh tịnh không thể chứa chấp một kẻ nghèo hèn nhất xã hội. Vẫn cái giọng điệu thơ rất đặc trưng, tửng tưng đến dễ ghét của thơ Đồng Đức Bốn, giọng thơ làm say đắm lòng người, làm “mê cung đình” ấy mà sao tôi thấy phát sợ, rờn rợn vì cái câu thơ này.

Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày

Kết cục là thế này đây. Ăn mày đang đói mà nhà sư cho lá bùa để làm gì? Có hộ mệnh được gì không? Nghèo kiết xác đến thế thì quỉ thần cũng chẳng thèm tha đi, nữa là những người ở trần gian. Thế nên ăn mày thì vẫn là ăn mày mà thôi, có thay đổi đâu, vẫn cái vòng luân hồi luẩn quẩn ấy, không thoát ra để đến cõi Niết bàn được.

Khi xem lại tiểu sử của Đồng Đức Bốn, tôi thấy ông cũng là một người ngưỡng mộ đạo Phật (ông có theo đạo Phật hay không thì tôi không được rõ lắm). Có lẽ vì lý do đó mà ông đã viết nên bài thơ tuyệt đỉnh này chăng?

Theo như Nguyễn Huy Thiệp đã từng phân loại, thơ lục bát được chia làm hai phái: Ngộ năng và Trí năng. Loại trí năng có vẻ ở câu sáu như thế này thì ở câu tám phải như thế kia, những liên tưởng dễ dắt nhau lôgic và có lý, đọc câu sáu người ta luận được câu tám. Những người nhiều chữ, những trí thức làm thơ, hoặc học đòi trí thức làm thơ thường ở loại này. Loại ngộ năng vị tình, lấy tình át chữ, đọc câu sáu mà không đoán ra được câu tám thế nào. Ngộ năng có phần hay hơn trí năng. Thực ra làm thơ lục bát cần tinh thông trí năng, nhưng trí năng học tập được, rèn luyện được, ngộ năng thì chịu, dứt khoát trời cho. Bởi vậy, lục bát mà ngộ năng thì hiếm quý. Ngộ năng đương nhiên bao gồm trí năng, nhưng trí năng không thể bao gồm ngộ năng được [1]. Theo cách phân loại này, thơ lục bát của Đồng Đức Bốn được xếp vào loại Ngộ năng. Vì vậy mà đọc thơ của Đồng Đức Bốn, ta không thấy chán và tẻ nhạt vì thơ của ông lấy tình làm trọng, không quá quan tâm đến câu chữ, niêm luật mặc dù điều này cũng quan trọng trong thơ ca.

Khi viết những dòng cảm nhận về bài thơ này, tôi cũng vẫn chưa hiểu được hết ý nghĩa của nó. Vội vàng lật giở lại những bài phân tích về thơ của Đồng Đức Bốn của các nhà phê bình văn học trong đó có bài “Vào chùa”, tôi nhận ra rằng đây là một bài thơ thiền. Đã là thơ thiền thì mọi lời bình luận đều vô nghĩa. Còn các bạn, các bạn nghĩ thế nào về bài thơ này?

Tham khảo
[1]. http://nguyenhuythiep.free.fr/giangluoi/GIOITHIEU.html
[2].
http://annonymous.online.fr/Thivien/viewauthor.php?ID=398
[3].
http://www.thovn.net/Viewarthor.asp?athor=44
[4]. Trần Đăng Khoa. Chân dung và đối thoại, NXB Dân tộc 2003

Nhân đây xin giới thiệu với các bạn một số bài thơ mà theo tôi là những tuyệt đỉnh khác của nhà thơ Đồng Đức Bốn. Hy vọng các bạn sẽ bổ sung thêm những bài thơ khác:

Chợ buồn

Chợ buồn đem bán những vui
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em
Chợ buồn bán nhớ cho quên
Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày
Chợ buồn bán tỉnh cho say
Bán thương suốt một đời này cho yêu
Tôi giờ xa cách bao nhiêu
Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư

Đời tôi

Tôi vừa lo được miếng cơm
Thì mất tí lửa tí rơm gầy lò.
Tôi vừa vượt bão mưa to
Chân đã phải lội đi mò sông sâu.

II
Mải mê tính chuyện không đâu
Qua song đã gẫy nhịp cầu chẳng lo.
Bòn mãi được mấy sợi tơ
Giăng ra bao kẻ đã vơ vào lòng.
Bây giờ còn có ai mong
Mà người mượn gió bẻ con trăng ngà.

III

Đời tôi tan nát bơ vơ
Nhớ thương là đợi còn chờ là yêu.
Đời tôi như một con diều
Đứt dây để trống cả chiều ngẩn ngơ.


VI
Đời tôi mưa nắng ở đâu
Bây giờ vuốt gió trên đầu tóc rơi.
Đời tôi tình rách tả tơi
Bây giờ nhặt mảnh sao rơi vá vào.
Đời tôi giầu ở chiêm bao
Bây giờ ngồi hút thuốc lào với trăng.

Trở về với mẹ ta thôi

Cả đời ra bể vào ngòi
Mẹ như cây lá giữa trời gió rung
Cả đời buộc bụng thắt lưng
Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng
Đường đời còn rộng thênh thang
Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng trời
Mẹ đau vẫn giữ tiếng cười
Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương
Bát cơm và nắng chan sương
Đói no con mẹ xẻ nhường cho nhau
Mẹ ra bới gió chân cầu
Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi.

2.
Chẳng ai biết đến mẹ tôi
Bạc phơ mái tóc bên trời hoa mơ
Còng lưng gánh chịu gió mưa
Nát chân tìm cái chửa chưa có gì
Cầm lòng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng.

3.
Mẹ mua lông vịt chè chai
Trời trưa mưa nắng đôi vai lại gầy
Xóm quê còn lắm bùn lầy
Phố phường còn ít bóng cây che đường
Lời rào chim giữa gió sương
Con nghe cách mấy thôi đường còn đau.

4.
Giữa khi cát bụi đầy trời
Sao mẹ lại bỏ kiếp người lầm than
Con vừa vượt núi băng ngàn
Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng
Trời hôm ấy chửa hết giông
Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng
Đưa mẹ lần cuối qua làng
Ba hồn bảy vía con mang vào mồ
Mẹ nằm như lúc còn thơ
Mà con trước mẹ già nua thế này.

5.
Trở về với mẹ ta thôi
Giữa bao la một khoảng trời đắng cay
Mẹ không còn nưa để gầy
Gió không còn nữa để say tóc buồn
Gió lùa khung cửa bên song
Mắt mẹ khô lệ mỏi mòn nhớ thương
Chiều ra đầu ngõ để chờ
Tóc bay trắng xoá bên bờ tịch liêu
Người không còn dại để khôn
Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm
Tôi còn nhớ hay đã quên
Áo nâu mẹ vẫn bạc bên nắng chờ
Nhuộm tôi hồng những câu thơ
Tháng năm tạc giữa vết nhơ của trời
Trở về với mẹ ta thôi
Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.


Bây giờ


Bây giờ không thấy Thị Mầu
Nhưng con mắt ấy còn lâu mới già.
Mỗi lần cây cải nở hoa
Thì tôi lại nhớ người ta chưa về.
Mỗi lần cỏ dại trên đê
Chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng.
Bây giờ em đi lấy chồng
Tôi giờ về lại bên sông tìm mình.

II
Bao nhiêu là thứ bùa mê
Cũng không bằng được nhà quê của mình.
Câu thơ nấp ở sân đình
Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau.
Nhuộm buồn những hạt mưa mau
Thành sao nở trắng vuờn cau trước nhà.
Nhuộm hương của các loài hoa
Thành mơn mởn tóc đuôi gà cho em.
Chẳng mong thì bão cũng đi
Chẳng chờ thì nắng đương thì vẫn sang.
Đất nâu tưởng đã cũ càng
Tiếng chim trong bụi tre làng cứ non.
Có đi trên quãng đường mòn
Mới tin rùa tháp vẫn còn linh thiêng.
Mỗi người có một cõi riêng
Cũng như tiếng trống tiếng chiêng hội mùa.
Câu ca mẹ hát như đùa
Mà làn nước mặn đồng chua đổi đời.