Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

Nhàn đàm sau mùa World Cup 2010

Nâng Cúp vàng chiến thắng. Nguồn: www.vietgle.vn

Có lẽ chưa World Cup nào mà tôi lại dành sự quan tâm và có nhiều cảm xúc đặc biệt như vòng chung kết năm nay. Chắc tại vì tôi được sống cùng với một người Đức yêu bóng đá nhiệt thành. Năm nay ông ta đã hơn 70 tuổi, vậy mà không bỏ sót một trận bóng đá nào tại vòng chung kết. Ngày nào ông ta cũng kè kè một tờ báo về bóng đá bên mình, lại còn say sưa trao đổi với tôi về chiến thuật, về cầu thủ mà ông yêu mến. Thành ra, với một kẻ chẳng hiểu biết gì về bóng đá như tôi, điều đó là một dạng “mưa dầm thấm lâu” khiến tôi cũng lĩnh hội được dần dần.

Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010

Bâng khuâng


Ngồi buồn chẳng biết làm chi
Lục trong tập sách tìm vài vần thơ

Bâng khuâng nhớ ánh trăng mờ
Nhớ câu lục bát, nhớ bờ sông yêu
Bâng khuâng nhớ mỗi buổi chiều
Mưa rơi nhè nhẹ, yêu kiều mắt nai…
Bâng khuâng nhớ tiếng thở dài
Trong veo bóng nước dáng ai ngại ngùng

Nhớ hoài một khoảng thinh không
Để mơ biển rộng để trông nắng về… 

Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010

Good morning Vietnam

Xin giới thiệu cùng các bạn bộ ảnh về Việt Nam, đã đăng trên tạp chí Vogue (Hàn Quốc). Bộ ảnh này có nhiều phong cảnh rất đẹp của đất nước ta.

Miên man sóng nước...
Câu hò mái đẩy vọng xa nguyệt cầm
Đợi chờ
Biển một bên và em một bên
Vào chùa
Đơn sơ
Biển và em
Tiếng sáo Thiên Thai
Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên/Tôi đã đày thân giữa xứ phiền...
Mái đình làng biển
Hôm nay em đi tỉnh về
Mặt trời lặn bóng cánh buồm đi đâu...
Lúa gặt rồi còn để lại rơm thơm...
Nắng nhẹ

Thứ Ba, 13 tháng 7, 2010

Ai là người đầu tiên đã dịch "Chiều Matxcơva" ra tiếng Việt?

Những người Việt Nam yêu nước Nga, yêu nhạc Nga, không ai là không biết hai tình khúc sâu lắng “Chiều Matxcơva” và “Đôi bờ”. Đó là những ca khúc đã trở thành kinh điển trong suốt nửa thế kỷ qua, chúng nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới. Nhưng ai là người đầu tiên đã dịch lời của chúng sang tiếng Việt và dịch trong hoàn cảnh nào thì còn rất ít người yêu nhạc được biết.

Thứ Ba, 6 tháng 7, 2010

Đôi mắt người Sơn Tây

Nhạc: Phạm Đình Chương
Lời: Thơ Quang Dũng
Biểu diễn: Duy Trác

Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2010

Khi đàn bà 30

Sau khi đăng lại bài viết: "Khi đàn ông 30", một người bạn của tôi ở phương xa có nhắn tin: "Chỉ thấy nói về đàn ông 30 thôi à? Thế đàn bà 30 thì sao? Tại sao không thấy đề cập đến gì cả?". Ok, không vấn đề gì cả, sẽ có đề cập. Entry này sẽ nói về sự thay đổi tâm lý, tình cảm của người đàn bà 30 so với những năm tuổi trẻ. Bài viết thú vị này là của nhà văn Trang Hạ, một người phụ nữ đầy cá tính.

Thứ Tư, 30 tháng 6, 2010

Khi đàn ông 30


Cổ nhân có câu: "Tam thập nhi lập" muốn nói đến việc lập thân trong cuộc đời của người đàn ông ở tuổi 30. Tùy từng thời điểm, từng hoàn cảnh mà việc lập thân này của người đàn ông có khác nhau, song tựu trung lại ai cũng muốn có chút "danh gì với núi sông", để truyền lại cho hậu thế.

Thật ra, từ lâu tôi đã có những ý nghĩ về những suy nghĩ, tâm tư tình cảm của người đàn ông tuổi 30, nhưng chưa đủ sức khái quát thành một bài viết hoàn chỉnh. Hôm nay vào blog của bạn Hien Nguyen (n2bigboy84) được đọc bài viết thật hay của tác giả Trần Ngọc Hưng về người đàn ông tuổi 30. Bài viết đã nói đầy đủ những gì tôi đang nghĩ về đàn ông tuổi 30 trong thế giới hiện đại. Xin cảm ơn tác giả Trần Ngọc Hưng nhiều lắm. Cũng xin cảm ơn bạn Hien Nguyen đã post bài viết. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa bài viết này.

Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2010

Bốn câu


Ánh trăng sóng sánh tràn ly rượu
Uống rượu cạn ly, uống cả trăng
Chống chếnh hồn ai say chợt tỉnh
Với lên trăng
sao chẳng xuống gần...

Thứ Tư, 16 tháng 6, 2010

Trò chuyện với Ngô Bảo Châu

Ngô Bảo Châu là một tài năng toán học của thế giới và rất có thể sẽ đoạt giải thưởng Fields (một trong những giải thưởng danh giá nhất trong toán học) trong nay mai. Ngày còn đi học, toán là một trong những môn học tôi mê nhất, song vì bất tài nên không thể theo đuổi con đường toán học được. Ngô Bảo Châu là người đầu tiên trên thế giới đã giải được một bài toán tồn tại hơn 30 năm qua, bài toán Langlands. Thật tuyệt vời. Thành thật chúc mừng anh!

Trân trọng kính mời các bạn theo dõi cuộc trò chuyện rất thú vị giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt. Cuộc nói chuyện này sẽ giúp cho chúng ta hiểu hơn về sự vất vả, nhọc nhằn, đòi hỏi sự hy sinh cao độ của những người làm khoa học và cũng hiểu thêm tại sao nền khoa học của nước Mỹ luôn ở vị trí hàng đầu thế giới.
------------------------------------
Tôi gặp anh Châu lần đầu vào cuối tháng 1-2010, lúc anh đã nhận lời sang Đại học Chicago làm giáo sư. Trong lần gặp đầu tiên đó, anh Châu đi cùng với hai người bạn chung của chúng tôi ở Chicago; chúng tôi hẹn nhau đi ăn tối ở trong khu Việt Nam. Hôm đó, trời rét đậm. Anh Châu mặc một chiếc áo choàng dài màu đen và đội mũ len; dáng người nhỏ, đôi mắt chắc chắn của người thường xuyên phải đọc và mái tóc đã bạc nhiều. Cảm giác đầu tiên không thể nhầm lẫn khi gặp anh Châu: anh Châu là một người rất giản dị và cởi mở. Trong xe ô tô trên đường vào khu Việt Nam, anh phụ họa đọc thơ với một người bạn.



Hôm đó, chúng tôi không có dịp nói chuyện nhiều. Điều mà tôi nhớ nhất là trong câu chuyện, anh hỏi tôi “Viết văn chắc là khó lắm nhỉ?”. Câu hỏi ấy làm tôi nhận ra có thể không chỉ có tôi thấy khó hình dung về công việc của một nhà toán học như anh, mà ngược lại những người làm toán có lẽ cũng không biết nhiều về công việc của người làm nghệ thuật. Nhưng có thể, toán học và văn học nói riêng, cũng như khoa học và nghệ thuật nói chung, đều chỉ là việc dùng những ngôn ngữ và công cụ khác nhau để mô tả và giải thích thế giới. Và đấy là lí do tôi đề nghị anh Châu cho tôi phỏng vấn anh trong lần gặp sau, với mong muốn rằng việc biết rõ thêm một chút về hành trình công việc và hành trình cá nhân của anh có thể giúp rất nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau có thêm niềm tin với những gì họ theo đuổi.



Chúng tôi đã hẹn sẽ gặp nhau lúc 9 giờ sáng ở nhà anh rồi đi bộ vào trường. Đầu tháng Tư, Chicago đã có nắng ấm; hoa tulip, thủy tiên và mộc lan bắt đầu nở trên mặt đất mặc dù lá chưa mọc trở lại trên các cây cổ thụ dọc các con đường trong khu Hyde Park. Chúng tôi mua cà phê ở Reynold Club rồi vào Hutch Commons ngồi. Hutch Commons là phòng lớn, nơi sinh viên và cả các giáo sư thường tới ngồi làm việc, ăn trưa, gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp. Căn phòng cao, với nhiều cửa sổ lớn gắn kính màu đón nắng mặt trời. Dọc hai bên tường có treo ảnh các đời hiệu trưởng của trường. Lúc này còn sớm và lại là thứ Hai nên trong Hutch Commons chỉ có vài ba sinh viên ngồi rải rác làm bài tập. Chúng tôi chọn một bàn ở góc trong cùng của căn phòng. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu bằng việc tôi thú nhận rằng tôi không biết sẽ phải phỏng vấn như thế nào; anh Châu nói thôi thì cứ nói chuyện bình thường thôi. Tôi ghi lại đây một số đoạn từ cuộc “nói chuyện bình thường” này và giữ nguyên cách xưng hô “anh-em” để trung thực với cuộc trò chuyện.

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2010

Không viết được gì


Bấy lâu chẳng viết được gì
Cảm thì chả thấy, hứng thì rỗng không
Nắng mưa xao xác lạnh lùng
và Em
chợt đến
dửng dưng
khóc cười

Hồng hoang xa ngái cõi người
Nửa đêm
nửa bóng
nửa tôi
nửa hình…

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2010

Ai là người tri kỷ của nàng Kiều?

"Truyện Kiều" là cuốn sách thơ kinh điển của kho tàng văn chương nghệ thuật Việt Nam. Bất cứ người Việt Nam nào đều thuộc những câu thơ trong "Truyện Kiều", người ít thì vài ba câu, người nhiều thì vài trăm câu... Cũng hiếm có tác phẩm văn học nào mà các nhân vật của nó lại đi vào đời sống nhân dân đến thế. Những nhân vật như: Tú Bà, Hoạn Thư, Sở Khanh, Từ Hải,... đã trở thành thân quen trong đời sống thường nhật. Như vậy, từ một tác phẩm văn học mang dấu ấn cá nhân của đại thi hào Nguyễn Du, "Truyện Kiều" đã trở thành đại diện của một dân tộc, là sản phẩm văn hóa của cả cộng đồng, như lời nhà trí thức Phạm Quỳnh: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn". 

Cuộc đời trôi nổi, phiêu dạt, khổ đau của nàng Kiều thì ai cũng biết. Thế nhưng, mấy ai biết được trong đời nàng, ai là người tri kỷ, là người sẻ chia thực sự những đau đớn mất mát của nàng. Bài viết dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ điều đó. Bài của nhà thơ Mai Văn Hoan (Huế), đã đăng trên Tạp chí Ngày nay.
----------------------------------------------------------------
AI LÀ NGƯỜI TRI KỶ CỦA NÀNG KIỀU?

Ai là người tri kỷ của nàng Kiều là một câu hỏi hết sức thú vị. Từ trước đến nay đã có không ít người đề cập đến vấn đề này. Căn cứ vào chữ nghĩa trong Truyện Kiều và những mối quan hệ tình cảm của nàng Kiều, người thì nói đó là Kim Trọng, kẻ thì cho đó là Từ Hải. Người thì quả quyết: chỉ có Thúc Sinh mới thực sự là tri âm tri kỷ của Kiều...

Người Việt Nam xưa nay thường dùng cụm từ tri âm tri kỷ để chỉ những đôi bạn hoặc những cặp vợ chồng "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Đó là những đôi bạn, những cặp vợ chồng hiểu nhau, thương yêu nhau, luôn quan tâm đến nhau, tạo điều kiện và giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Tri âm, tri kỷ đều những là từ Hán - Việt mang hàm nghĩa: người bạn tâm đắc, thấu hiểu tâm tư tình cảm của mình. Bá Nha - Chung Tử Kỳ, Lý Bạch - Đỗ Phủ, Nguyễn Khuyến - Dương Khuê, Xuân Diệu - Huy Cận... là những đôi bạn như thế. Được tin Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến than thở: Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua/ Câu thơ nghĩ đắn đo không viết/ Viết đưa ai, ai biết mà đưa... Tôi cho đó là những câu thơ thể hiện một cách đầy đủ, sâu sắc tình bạn tri âm tri kỷ.

Từ quan niệm về tình bạn, tình vợ chồng tri âm tri kỷ, đi sâu tìm hiểu ai là người tri kỷ của nàng Kiều. Người đầu tiên phải kể đến là chàng Kim. Mối tình Kiều - Kim là mối tình đẹp nhất, trong trắng nhất, nên thơ nhất, chung thuỷ nhất điều đó là lẽ hiển nhiên không cần phải bàn cãi. Nhưng Kim Trọng có thực sự là tri kỷ của Thuý Kiều hay không, thiết nghĩ cũng nên xem xét lại. Chàng Kim Phong tư, tài mạo tót vời/ Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa. Mới gặp chàng lần đầu nàng Kiều đã xao xuyến, rạo rực, mơ tưởng: Người đâu gặp gỡ làm chi... Kiều yêu chàng đến mức "khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan"...Nhưng trong quá trình tiếp xúc giữa hai người, theo tôi, có ít nhất ba lần Kim Trọng tỏ ra chưa thật hiểu nàng Kiều. Lần thứ nhất là lúc chàng nghe nàng đánh đàn: Khi tựa gối, khi cúi đầu/Khi vò chín khúc khi chau đôi mày. Kiều vừa đàn xong, Kim Trọng "góp ý" ngay: Rằng hay thì thật là hay/Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào/Lựa chi những khúc tiêu tao/Dột lòng mình lại nao nao lòng người.

Nếu thực sự hiểu nội tâm của Kiều, hiểu sự tiên cảm của Kiều, chắc chàng không nhận xét và khuyên bảo một cách nông cạn như thế. Lần thứ hai là khi "sóng tình dường đã xiêu xiêu", Kim Trọng đã có những cử chỉ, hành động "ra chiều lả lơi" với Kiều. May mà Kiều kịp thời ngăn chặn: Thưa rằng đừng lấy làm chơi/ Dẽ cho thưa hết một lời đã nao... Điều đó cũng chứng tỏ Kim Trọng chưa thật hiểu Kiều, chưa thật sự tôn trọng Kiều. Nàng phải buộc lòng dạy cho chàng bài học về "đạo tòng phu". Lần thứ ba là khi hai người gặp nhau sau mười lăm năm xa cách, để giữ thể diện cho chàng và không muốn mang tấm thân ô nhục của mình vấy bẩn đời chàng nên nàng quyết định "đem tình cầm sắt, đổi ra cầm cờ". Ấy thế mà trong cái đêm động phòng, Kim Trọng vẫn cố kèo nài nàng để làm "chuyện ấy". Một lần nữa buộc lòng Kiều phải tìm lời lẽ thuyết phục: Người yêu ta xấu với người/ Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau/ Cửa nhà dù tính về sau/ Thì còn em đó lọ cầu chị đây/ Chữ trinh còn một chút này/ Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan/ Còn nhiều ân ái chan chan/ Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi... Bấy giờ Kim Trọng mới ân hận và thú nhận là mình đã hiểu sai về nàng: Chừng xuân tơ liễu còn xanh/ Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân... Vì những lẽ trên, nên theo tôi, Kim Trọng chưa thật xứng đáng là người tri kỷ của Kiều.

Người thứ hai là Thúc Sinh. Mối tình Thúc Sinh - Thuý Kiều không đẹp, không trong trắng bằng mối tình Kim Trọng - Thuý Kiều. Nhưng bù lại Thúc Sinh có lẽ là người tình có nhiều điểm tương đồng với Kiều hơn cả. Thúc Sinh chính là người đã "phục sinh" cho Kiều. Hoàn cảnh đưa đẩy vào chốn lầu xanh, Kiều xem như mình đã chết: Mặc người mưa Sở, mây Tần/ Riêng mình nào biết có xuân là gìVui là vui gượng kẻo là/ Ai tri âm đó mặn mà với ai. Mặc dù khách làng chơi toàn cỡ Tống Ngọc, Tràng Khanh nhưng duy nhất chỉ có Thúc Sinh là chinh phục được Kiều: Sớm đào tối mận lân la / Trước còn trăng gió sau ra đá vàng.../ Miệt mài trong cuộc truy hoan/ Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình.

Làm xiêu lòng một cô gái còn ngây thơ trong trắng không khó, phục sinh một phụ nữ mà cõi lòng đã băng giá còn khó hơn nhiều. Nếu không thực sự tài năng và có tấm lòng chân thực không thể làm được. Về tài cầm kỳ thi họa thì chỉ có Thúc Sinh là sánh được với Kiều. Hai người vẫn thường chơi cờ, họa đàn với nhau (Kim Trọng chỉ có nghe chứ chưa bao giờ họa đàn với Kiều). Làm thơ hay như nàng Kiều (Ví đem vào tập đoạn trường/ Thì treo giải nhất chi nhường cho ai) thế mà phải bái phục Thúc Sinh. Nàng khen thơ chàng "lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu". Và kiếm cớ "lòng còn gởi áng mây Hàng" (nhớ cha mẹ) nên "họa vần, xin hãy chịu chàng hôm nay". Thế mới biết Kiều rất nể phục Thúc Sinh (Kim Trọng chỉ làm quan chứ không hề thấy làm thơ).

Nếu không thực sự thương yêu Kiều dại gì Thúc Sinh phải vung tiền cứu Kiều ra khỏi lầu xanh và quyết chí lấy nàng làm vợ. Những ngày tháng sống với chàng Thúc là những ngày tháng nàng Kiều hết sức hạnh phúc "hương càng đượm, lửa càng nồng". Vì thế nên khi chia tay Thúc Sinh, Kiều cảm thấy vô cùng cô đơn, trống trải: Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi/ Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường... Nếu Thúc Sinh nghe lời Kiều thú thực với Họan Thư, mọi chuyện chắc sẽ khác. Việc không làm theo lời dặn của Kiều, chứng tỏ Thúc Sinh cũng không thực sự hiểu Kiều, cộng với tâm lý khiếp sợ trước thế lực gia đình Hoạn Thư đã phá hỏng tất cả. Thúc Sinh bỏ mặc Kiều bơ vơ một mình trong cơn họan nạn: Liệu mà xa chạy, cao bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi! Như vậy, Thúc Sinh đâu có xứng đáng là người tri kỷ của Kiều.

Người thứ ba là Từ Hải. Không dềnh dàng "sớm mận, tối đào" như mối tình Thúc Sinh - Thuý Kiều. Từ Hải - Thuý Kiều vừa mới gặp nhau đã "hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa". Chỉ nghe Kiều nói một đôi câu khiêm nhường là Từ Hải đã "vừa ý gật đầu" và xem Kiều là người "tri kỷ" của mình ngay. Có người nói đây là mối tình "sét đánh". Thực ra, Từ Hải đến với Kiều chỉ vì sắc đẹp ‘nghiêng nước nghiêng thành" của nàng. Còn Kiều đến với Từ chủ yếu là tìm thấy ở Từ một chỗ dựa vững chắc cho cuộc sống trôi nổi, bấp bênh của mình. Không như Thúc Sinh - Thuý Kiều, cặp Từ Hải - Thuý Kiều gần như là sự tương phản. Từ Hải "vai năm tấc rộng, thân mười thước cao", còn Kiều thì "liễu yếu đào tơ"; Từ Hải "thanh gươm yên ngựa", còn Kiều thì "cầm kỳ thi họa"; Từ Hải bộc trực, nói năng có phần bỗ bã "mắt xanh chưa để ai vào, có không ?", còn Kiều thì nói năng nhẹ nhàng, bóng bẩy, chữ nghĩa "Tấn Dương được thấy mây rồng có phen"... Qua cuộc đối thọai giữa Kiều và Từ Hải trong lần Kiều thuyết phục Từ Hải ra hàng, ta thấy độ vênh rất lớn giữa hai người. Từ cho rằng: Bó thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo, phận mình ra sao/ Áo xiêm ràng buộc lấy nhau/ Vào luồn ra cúi công hầu mà chi/ Sao bằng riêng một biên thuỳ/ Sức này đã dễ làm gì được nhau... Trong khi đó, Kiều lại khuyên Từ nên về với triều đình: Sao bằng lộc trọng, quyền cao/Công danh ai dứt lối nào cho qua ? Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ thấy họ không phải là những người "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Việc Nguyễn Du không lần nào tả nàng Kiều đàn cho Từ Hải nghe chắc cũng có lý do của nó. Phải chăng vì Từ không phải là một Chung Tử Kỳ ? Từ Hải là ân nhân hơn là người tri kỷ của Kiều.

Vậy chẳng lẽ không có ai thật sự là người tri âm tri kỷ của Kiều ? Xin thưa: có đấy! Theo tôi, người đó không ai khác ngoài đại thi hào Nguyễn Du. Nhà thơ là người hiểu Kiều hơn ai hết, thương Kiều hơn ai hết. Chính Nguyễn Du là người cảm nhận hết vẻ đẹp hình thể tuyệt vời của nàng Kiều: Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một toàn thiên nhiên. Chính Nguyễn Du hiểu và thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp tâm hồn của Kiều. Đó là đức hy sinh, tâm hồn đa cảm, tình yêu thuỷ chung, tấm lòng vị tha của nàng. Nguyễn Du rất khâm phục tài làm thơ, tài đàn của Kiều. Và không ai thấu hiểu và cảm thông với những nỗi đau khổ mà Kiều phải chịu đựng như Nguyễn Du. Nhiều lần ông đã lên tiếng bênh vực cho nàng: Thịt da ai cũng là người/ Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau! Tố Hữu có một câu thơ rất nổi tiếng "Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều". Nguyễn Du đã khóc thương nàng Kiều như khóc thương một người bạn tài hoa bạc mệnh. Phải đồng cảm với Kiều đến mức nào, nhà thơ mới viết được những câu xé ruột, xé lòng: Tuồng chi là giống hôi tanh/ Thân ngàn vàng để ô danh má hồng/ Thôi còn chi nữa mà mong/ Đời người thôi thế là xong một đời! hoặc Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường/ Mặt sao dày gió dạn sương/ Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân...

Bạn bè thì nhiều nhưng người thật sự tri âm tri kỷ rất hiếm. Gặp được người bạn tri âm tri kỷ là niềm hạnh phúc không có gì sánh được. Thật bất hạnh cho những ai trong đời không có bạn tri âm tri kỷ. Nàng Kiều đã may mắn gặp được Nguyễn Du như là sự bù đắp những nỗi khổ đau mà nàng từng chịu đựng. Và theo tôi, hai câu: Mấy lời tâm phúc ruột rà/ Tương tri dường ấy mới là tương tri, nàng Kiều nói với Nguyễn Du có lẽ phù hợp hơn là nói với chàng Kim.

Mai Văn Hoan

Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2010

Con cóc


Có chàng cóc tía bên ao
Lơ mơ ngủ gật, thì thào gió trăng
Nước mây lấp loáng sao giăng
Giật mình cóc tỉnh, nghiến răng gọi Trời