Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

Nghĩ vẩn nghĩ vơ

Triêu như thanh, mộ như tuyết câu thơ tài tình của Cao Bá Quát hay Giật mình ôi chiếc lá thu phai trong ca từ họ Trịnh là những lời than, những tiếng thở dài cho thân phận ngắn ngủi và mỏng manh mây trôi bèo dạt của kiếp người. Từ thuở còn để tóc ba vá, chơi đùa nghịch ngợm ban trưa ngoài cánh đồng bênh bang sóng nước, đến lúc bước vào cuộc đời sương gió, đầy những trầm luân dâu bể và cuối cùng lại trở về với cát bụi. Ôi, thời gian sao mà xuẩn ngốc/Mới đó thôi đã một đời người...

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Chuyện cấm luyến ái giữa người trong quan họ

Quan họ ngày xuân. Nguồn: quanvan.net
Quan họ là một thể loại âm nhạc rất độc đáo của người Việt, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Quan họ tập trung chủ yếu ở vùng văn hóa Kinh Bắc. Về nguồn gốc của nó, cho đến nay vẫn chưa có một giả thuyết nào được đa số các nhà nghiên cứu đồng tình. Chỉ biết rằng, đây là hình thức hát đối đáp giữa người nam và người nữ, thường diễn ra vào những dịp lễ hội, đám cưới, giỗ chạp,… của xã hội. Quan họ có tới hơn 300 bài, với làn điệu phong phú nhất trong số các loại hình dân ca của Việt Nam. Nhiều bài dân ca Quan họ đã trở nên quen thuộc với mọi người: Mời trầu, Khách đến chơi nhà, Tương phùng tương ngộ, Vào chùa, Còn duyên, Con nhện giăng mùng, Giã bạn,…  

Mặc dù có một kho tàng bài bản và đồ sộ, kỹ thuật thanh nhạc rất cao và phong cách biểu diễn chuyên nghiệp như vậy, song những người tham gia Quan họ đều coi đây là một thú Chơi nghệ thuật, chứ không phải là một nghề để kiếm sống. Người ta hát Quan họ như để giải bày, để sẻ chia, để phục vụ cho những cuộc Chơi năm tháng, làm giàu có hơn tâm hồn của bản thân mình và đồng loại. Vì thế, nó trở thành loại hình thuộc về nhân dân, mang đậm nét tính cách Việt và văn hóa Việt.

Trong một dịp nghe một bài hát của nhạc sỹ Lê Minh Sơn về miền Quan họ, tôi thấy thật khó hiểu bởi một “lời nguyền” nào đó dành cho các liền anh, liền chị nếu họ lấy nhau. Tò mò, tôi vội đi tìm hiểu và thật may mắn, tôi gặp được bài viết dưới đây. Tác giả Bùi Trọng Hiền đã giải thích rất rõ ràng và thuyết phục về vấn đề này. Đây có thể là một trong những lý do khiến cho nghệ thuật hát Quan họ tồn tại được theo thời gian. Cũng qua bài viết, tôi mới cảm nhận được tại sao mà khi chia tay nhau, người Quan họ lại ngậm ngùi thương cảm đến vậy: Người về em vẫn khóc thầm/Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa/Người về em vẫn trông theo/Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi…/Người ơi người ở đừng về…

Trân trọng cảm ơn anh Hiền và kính mời bạn đọc...

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Biển, nỗi nhớ và em


Trên chuyến bay của Vietnam Airlines từ Frankfurt về Hà nội, tình cờ tôi được thưởng thức giọng ca của Lê Anh Dũng. Một giọng tenor thật sang trọng. “Gió âm thầm không nói mà sao núi phải mòn/Em đâu phải là chiều mà nhuộm anh đến tím…”. Nghe bài hát ở độ cao trên 10000 mét quả là khác biệt so với khi nghe ở dưới mặt đất. Một nỗi buồn lai láng bất chợt dồn nén trong một không gian thăm thẳm. Của màn đêm. Của khí trời. Của anh và của em. Cả một chuỗi đong đầy kỷ niệm lại ùa về trong anh. Em, giờ này em đang ở đâu? Em còn nhớ lần đầu tiên anh đã hát bài này, duy nhất một lần cho em nghe. Riêng anh và em, như thể thế giới này chỉ còn có hai kẻ cô đơn đang tự đi tìm cho mình một giấc mơ bằng pha lê. Lúc đó em thật đẹp. Bờ môi em ảo tưởng. Suối tóc em nồng nàn. Anh đã bị ma đưa quỉ khiến… Để đến bây giờ, không thể nào anh quên được: “Xa em lòng bỗng thấy buồn/Mặt trời lặn bóng cánh buồm đi đâu/Mưa suông gió buốt núi sâu/Đời anh nghiêng ngả đếm sầu…nhớ em”... 

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Hạ tầng tư duy

Cả thế giới đã từng ngưỡng mộ một nước Nhật phục hồi mạnh mẽ kinh tế sau chiến tranh, kính trọng một tinh thần Đức trong công việc hay trầm trồ trước những thành tựu về khoa học và kỹ thuật Mỹ... Chắc chắn việc đi tìm nguyên nhân của những thành công đó sẽ không bao giờ chấm dứt, vì nó luôn được nhìn ở nhiều góc độ. Ở đây, chỉ xin giới thiệu một góc nhìn khác về sự phát triển của một quốc gia, dựa vào một khái niệm mới: Hạ tầng tư duy. Bài viết của Tiến sỹ Giáp Văn Dương (Singapore). Có thể coi đây cũng là một cách lý giải về sự thành công của các dân tộc khác nhau trên thế giới.

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

Chúc mừng nhà văn Bảo Ninh

Nỗi buồn chiến tranh (The Sorrow of War) là một trong số ít những tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Ra đời năm 1987, với tên gọi ban đầu Thân phận và tình yêu, cuốn sách đã miêu tả chiến tranh dưới góc nhìn khác, góc nhìn cá nhân, qua câu chuyện của một người lính tên Kiên và cô bạn học tên Phương. Tiểu thuyết này đã được các nhà phê bình văn học trong và ngoài nước đánh giá là một trong những cuốn sách viết về chiến tranh xúc động nhất trong nền văn học thế giới. Nhân dịp nhà văn Bảo Ninh được giải thưởng châu Á, xin chân thành gửi lời chúc mừng tới anh...

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Đắc đạo trà ngon đắc đạo tình

Lão là một kẻ nghiền trà hạng nặng, có lẽ là nặng nhất trong số những bạn bè của tôi. Lão cũng có khả năng thẩm trà được xếp vào loại “cao thủ võ lâm” (theo quan điểm của tôi, kẻ không thích uống trà. Hi hi). Có đợt tôi gửi cho lão một cân trà Thái Nguyên loại ngon, cố tình trộn thêm vào đó một ít trà Phú Thọ để xem lão phản ứng thế nào. Ai dè lão biết được ý đồ đó và còn “xỏ lá” bằng cách viết một bài trên blog, hàm ý vừa ca ngợi, vừa “chửi bới” tôi. Lại còn chụp ảnh để ghi lại tang chứng, chỉ rõ cái nào là trà Thái Nguyên, cái nào là trà Phú Thọ. Thế mới khổ thân tôi. Đúng là làm phúc phải tội mà.

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

Em là con gái miền Tây

Dương Trương Thiên Lý là một người đẹp gây ấn tượng với tôi, bởi phong cách hiện đại, nói tiếng Anh lưu loát và một vẻ quyến rũ rất Á Đông. Năm 2008, cô đã giành giải Á hậu trong cuộc thi Hoa hậu hoàn vũ diễn ra tại Nha Trang và sau đó đại diện cho sắc đẹp Việt Nam tham dự Hoa hậu thế giới tại Nam Phi. Đẹp và tài năng. Đó là cảm nhận của cá nhân tôi về Thiên Lý. Vẻ đẹp dễ khiến người đối diện bị xốn xang. Xốn xang rồi ám ảnh, vì nét ngây thơ, trong sáng và mỏng manh của người đẹp. Theo dõi trả lời phỏng vấn, được biết cô là con gái miền Tây (Đồng Tháp), vựa lúa của cả nước, có dòng Tiền giang êm ái, là nơi "tôi có người yêu mang tên Hồng Ngự.../Hình dáng của người em thơ/trong tôi gói trọn ước mơ" như lời của một bài hát về mảnh đất trù phú này. Hiện tại, Thiên Lý đang du học tại nước Mỹ xa xôi, nhưng cô luôn ý thức được rằng tâm hồn mình, trái tim mình thuộc về đất Mẹ mang tên Việt Nam. Tôi thì nghĩ rằng, khi người ta ý thức được về quá khứ, biết thương nhớ và trân trọng nguồn cội của mình thì sẽ đi xa hơn trong cuộc đời. 

Xin giới thiệu với các bạn một vài ảnh chân dung của cô, Á hậu Dương Trương Thiên Lý. Một ngày nào đó:  "Tôi sẽ về thăm quê hương Hồng Ngự/Nhìn lúa Tháp Mười vươn lên đầy đồng/Nhìn cánh chim trời tung bay/Mà nghe luyến lưu dâng đầy..."
Hoa thương nhớ ai

Hương thầm

Nét ngọc

Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu

Đi đâu đào liễu một mình

Ngại ngùng

Dáng xuân

Gửi thêm một chút sương mù

Vào trong đôi mắt hồ thu của người...

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011

Chuyện một người Đức yêu phim Việt

HNM - Là một người Việt Nam, trong nhà bạn liệu đã có những đĩa DVD phim kinh điển của điện ảnh Việt? Một người Đức làm việc trong lĩnh vực ngoại giao không những sở hữu một bộ sưu tập khá nhiều phim Việt Nam, mà còn là người có những nhận xét sắc sảo về phim Việt. Báo Hà Nội Mới đã có cuộc trò chuyện với anh Hans Farnhammer, Phái đoàn Uỷ ban châu Âu tại Việt Nam về môn nghệ thuật thứ 7 này.

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Nhớ Hoàng Cầm

Nhà thơ Hoàng Cầm (1922-2010)
Thế là nhà thơ Hoàng Cầm đã tìm về với đất Mẹ Kinh Bắc tròn một năm. Có lẽ ông là một trong những nhà thơ được yêu mến bậc nhất trong nền thi ca đương đại. Điều gì đã khiến thơ ông được đông đảo người dân yêu thích đến vậy? Đó có phải là tình yêu quê hương, yêu thương con người, một trầm tích văn hóa đã gắn bó máu thịt với ông, từ thuở còn nằm nôi đến khi nhắm mắt. Tôi được biết đến ông lần đầu khi còn là một cậu học trò cấp ba, từ bài thơ được giảng dạy trong sách giáo khoa Bên kia sông Đuống. "Em ơi buồn làm chi/Anh đưa em về sông Đuống/ngày xưa cát trắng phẳng lỳ/Sông Đuống trôi đi/một dòng lấp lánh/Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ...". Yêu thích bài thơ phần vì nhà tôi gần với dòng sông "nằm nghiêng nghiêng" đầy thơ mộng và yên bình ấy. Có lần tôi cũng gọi điện thoại để hẹn hò với một hoa khôi của trường. Nàng là người ở đất bên bờ sông Đuống. Duyên dáng và lãng mạn. Thật không may, người cần gặp thì không thấy, lại gặp ngay một "cảnh sát" là mẹ nàng. Sau một hồi "tra hỏi" về tên tuổi, mục đich gọi điện, bà hỏi tôi: "Nhà cháu ở đâu?". "Dạ, nhà cháu ở bên kia sông Đuống ạ!"... Nàng lên xe hoa từ rất sớm, khi tôi còn đang học đại học năm thứ hai. Ngày cưới em, nhiều gã đàn ông ngậm ngùi, nuối tiếc hay thầm thì nhỏ lệ. Có người trong số đó cũng lẩm nhẩm bài thơ Lá diêu bông, Cây tam cúc, chắc là để tìm cho riêng mình niềm an ủi "Lấy chồng sớm làm gì"... 

Về sau này, khi tìm hiểu về cuộc đời của ông, tôi được biết ông tên thật là Bùi Tằng Việt (bút danh Hoàng Cầm là tên một vị thuốc rất đắng trong Đông y) sinh năm 1922 tại huyện Việt Yên (Bắc Giang). Quê gốc của ông ở huyện Thuận Thành (Bắc Ninh). Đẹp trai, da trắng, môi đỏ, đa tài và đa tình. Làm thơ từ năm 16 tuổi và sớm nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam quan cùng năm đó, Kiều Loan khi 20 tuổi. Vở kịch thơ này ca ngợi lòng yêu nước, thức tỉnh tinh thần tự hào dân tộc của mỗi người dân Việt. Tham gia kháng chiến chống Pháp với vai trò Trưởng đoàn văn công của Tổng cục Chính trị và vướng vào vụ Nhân văn Giai phẩm. Từ đó ông trở về Kinh Bắc như một điểm tựa tinh thần duy nhất để nương niu, bấu víu trong những tháng ngày khốn khó. Thời gian này ông viết tập thơ Về Kinh Bắc, một tập thơ quan trọng nhất và là cột sống trong đời thơ của ông, như chính ông đã thừa nhận. Tập thơ chia thành các "nhịp" với những đêm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Ở đó ngôn ngữ Việt được thăng hoa trong những đêm quan họ lỏng lơi, những "váy Đình Bảng buông chùng cửa võng" hay "vắt áo nghe thầm tiếng vải kêu", khao khát yêu đương đắm đuối nhưng vô vọng giữa người em và Chị "em đứng nhìn theo/em gọi đôi" và cả những nhục cảm đa nghĩa "Ấm êm em trong trắng da thịt đêm". Về Kinh Bắc là kết tinh của những lớp vỉa dày văn hóa và tâm linh Kinh Bắc đặc sắc và nén thẫm. Về thi pháp, Về Kinh Bắc ẩn chứa một nhạc điệu, một nguồn sáng, một thế giới riêng mà chỉ có Hoàng Cầm mới tạo ra và "tung hoàng" ở đó được. Cõi thơ Hoàng Cầm đậm chất âm tính, nằm giữa hư và thực, là sự đồng hiện của không gian và thời gian, gợi về những cái đã qua, tưởng là cổ truyền song lại hiện đại nên có sức ám ảnh và lôi kéo rất mạnh người đọc. Do vậy, nó không quá cũ và vẫn mang hơi thở của thời hiện đại. Đó là lý do mà nhà thơ Trần Dần đã gọi ông là "nhà thơ tân cổ điển". Đọc Hoàng Cầm mới thấy hết nỗi niềm yêu thương tiếng Việt, văn hóa Việt, đắm đuối với tình yêu con người của người thi sĩ tài hoa đất Kinh Bắc và của cả dân tộc. Vì cuối cùng, ai trong số chúng ta cũng sẽ có lần "Cúi lạy Mẹ con trở về Kinh Bắc"...

Nhân ngày giỗ đầu của nhà thơ, kẻ hậu sinh mạo muội viết mấy dòng này, để tưởng nhớ tới ông và cũng để biết rằng ông đã rời cõi tạm đến một cõi Thơ mới. Khi ngoảnh đầu nhìn hậu thế, chỉ còn một điều duy nhất mà Người Thơ gửi lại giữa vô vàn sương gió: "Những khoảng chiều buồn phơ phất lại/Anh đàn em hát níu xuân xanh..."

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

Đại học Nga đưa sách Nguyễn Nhật Ánh vào giảng dạy


Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Cuốn 'Cô gái đến từ hôm qua' (NXB Trẻ, 1995) của nhà văn xứ Quảng vừa được tiến sĩ Maxim Syunnerberg đề nghị đưa vào giáo trình giảng dạy tiếng Việt của Đại học Moscow, Nga.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011

Tự khúc

Con đường xa nỗi không tên
Một thương hai nhớ ba quên bốn chờ
Sầu cầm cung khép chơ vơ
Rì rầm cội gió giăng mờ phôi pha

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Trực tuyến với Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn năm 2011

Toquoc - Có lẽ triết lý nhân sinh trong 600 nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn câu hay nhất vẫn là “…để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười”. Nên… dù Trịnh Công Sơn đã hóa thân cát bụi mười năm vẫn mưa xuống lòng ta những giai điệu slow, blues, boston buồn mà không bi mị, không một chút lên gân nhưng ma mị, lại phảng phất dân ca và thấm đẫm chất thiền. Nhạc của Trịnh Công Sơn là phát nguyện của tinh thần Phật giáo.

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Đoản khúc cà phê

Cà phê không phải thức uống yêu thích của tôi, ngoại trừ những lúc uống để...chống buồn ngủ. Thế mà đọc bài viết về cà phê của nhà thơ Văn Công Hùng (Gia Lai) thấy thật thú vị. Ngẫm ra, "Chơi cho biết mặt sơn hà/cho sơn hà biết đâu là mặt chơi". Mời các bạn cùng đọc...
Cà phê luyến lưu...
Tự nhiên đêm nay cứ bồn chồn thắc thỏm mà lại không... thèm rượu, vừa may có hai ông nghệ sĩ nhiếp ảnh rủ uống cà phê vào lúc... chín giờ tối. Hai ông nhiếp ảnh uống trà cung đình còn tôi "chơi " một ly đen nóng mười lăm nghìn, vừa nói chuyện lan man vừa nghĩ về... cà phê. Ví dụ ý nghĩ này vụt ra: Mấy ngày nay cà phê nhân rớt giá kinh khủng, thấp nhất trong vòng mấy chục năm nay, thế nhưng giá cà phê phin vẫn giữ như thế. Cà phê cóc vỉa hè sáu hoặc bảy ngàn, còn cái quán tôi đang uống đây là mười lăm ngàn một ly đen nóng...

Bây giờ tôi là một gã nghiện cà phê thứ thiệt trên xứ xở cà phê Pleiku. Làm gì thì làm, ăn sáng xong là phải có một ly, đen nóng, không uống cà phê sữa, cà phê đá, đơn giản là chỉ cà phê đen nóng mới lên hết chất cà phê. Giọt cà phê sánh đen như mắt con gái Pleiku, tần ngần vo lại, tích tụ, rồi nghi ngại thả mình rơi xuống ly, rụt rè lan vào đáy ly, cái ly được đặt trong một cái ống bơ nước nóng. Đơn giản vậy mà cà phê. Đơn giản vậy mà cuộc đời thăng hoa. Đơn giản vậy mà thổn thức bồn chồn nhớ. Đơn giản vậy mà bây giờ trên phố trên làng, ngập tràn khắp nước, nhấp nhô quán cà phê. Các vỉa hè Pleiku, mà chả Pleiku, vỉa hè khắp nước, bạt ngàn ràn rạt cà phê...

Cà phê nó không chỉ là cà phê, mà nó còn là văn hóa, là triết lý, là một cái gì đó bí ẩn trong cái khắc khoải nhớ thèm không cắt nghĩa được, cứ mang mang, cứ thắc thỏm, cứ bất an... nếu như mỗi ngày vì lý do gì đó chưa có một cữ ngồi cà phê. Tất nhiên để nâng lên tầm văn hóa cà phê, triết lý cà phê là cả một đoạn trường, không phải quán cà phê nào cũng đạt tới, và cũng không phải khách uống cà phê nào cũng có thể đạt tới. Thì lạ thế mới là... cà phê. Cả nghìn ông nghiện cà phê, may ra chỉ một ông lòng dạ can trường, sáng ăn tô cơm vợ chiên xong thì nhẩn nha trìu mến bưng ly cà phê vợ pha, thân thương ngắm vợ quần nhăn mặt mộc tất tả các công việc không tên buổi sáng, vừa uống vừa nhìn đồng hồ rồi thong thả dắt xe đi làm. Trời ạ, cuộc đời thanh bình đến thế thì thôi, hạnh phúc giản đơn sâu nặng đến thế là cùng. Nhưng còn chín trăm chín chín ông thì làm gì buổi sáng. Đơn giản vô cùng, họ ngạ ngật ở các quán cà phê quen. Uống cà phê là uống cái không khí cà phê, mà ta gọi sang trọng là văn hóa. Nó có văn hóa máy lạnh váy ngắn, có văn hóa lô nhô quán cóc, có văn hóa chân giầy và cũng có món chân đất co lên ghế. Vấn đề là anh hưởng hết những gì mà một ly cà phê và không gian cà phê ban cho anh, dâng tặng cho anh và nhiều khi là nó cũng... hành anh.
Một góc cà phê vỉa hè
Tôi chỉ mê cà phê cóc, và chỉ có vài quán ở Pleiku này là tôi hay ngồi. Ở đấy chủ quán thuộc gu khách đến từng chi tiết nhỏ nhất, bao nhiêu cà phê, bao nhiêu nước sôi, hướng ngồi, chỗ ngồi, màu ghế, cho đến bình trà pha thế nào để không nhạt không đắng, cái tiếng hắt hơi khi ngụm cà phê đầu tiên chạm nhẹ vào lưỡi... nếu hôm nào không có tiếng hắt hơi ấy, thì hoặc là khách dở người, hoặc là cà phê dư hay thiếu gì đấy. Ôi chao ly cà phê trông đơn giản, tưởng như ai pha cũng được, ai dội nước vào cũng xong, thì nó lại cầu kỳ tinh tế đến từng chi tiết rất nhỏ. Thì đã bảo hàng ngàn quán cà phê, nhưng chỉ chừng nửa số ấy là có văn hóa, có triết lý cà phê, họ nâng việc pha chế, phục vụ, bán cà phê... thành nghệ thuật, một thứ nghệ thuật vô lượng vô hình mà chỉ ai thật sành, thật tinh tế mới cảm nhận được. Họ pha cà phê như một sự ngưỡng thánh, như tự mình dâng hiến, đắm say và sáng tạo, bí ẩn và thiêng liêng. Còn lại là làm cà phê, bán cà phê vì bởi... chả biết làm gì. Ngồi cà phê nhưng thực chất vì những giọt cà phê đen sánh thơm nồng nàn chỉ là một phần nhỏ. Phần lớn là ngồi nghe đời, nghe mình tan theo mỗi giọt cà phê, xem đời, xem mình trôi chầm chậm ngoài đường. Đấy chính là lúc con người minh triết thanh sạch nhất để cảm nhận cuộc đời, tự vấn chính mình, thắc thỏm xung quanh. Cà phê và không khí cà phê đã giúp con người làm được điều ấy. Có người bảo, uống cà phê phin kiểu Việt Nam là kiểu tiểu nông, của anh thất nghiệp, thừa thời gian, chứ còn ở đất nước công nghiệp hiện đại, họ uống cà phê hòa tan, nhanh chóng ực một nhát, rồi đi làm. Quả là cà phê là một thứ du nhập, nó vào Việt Nam theo dấu chân thực dân, nhưng rồi cũng như chiêng cồng, như ghè rượu, là những thứ mà người Tây Nguyên không làm ra được, nhưng khi mua về, đổi về, người Tây Nguyên đã biến chiêng cồng, biến ghè thành đặc sản của mình, nâng nó lên tầm văn hóa, bắt cả thế giới phải khán phục. Khi vào Việt Nam, cà phê đã được Việt hóa một cách thông minh và đầy bản sắc, phù hợp với phong cách Việt, không khí Việt. Chưa được thưởng thức hết cà phê trên thế giới, nhưng tôi đã uống cà phê pha kiểu Nga và một số nước Đông Âu, họ pha kiểu... cất rượu. Bỏ qua cái tao nhã, cái thư thái, cái chiêm nghiệm, cái lăn tăn sốt ruột, cái an nhiên tự tại, cái lắng sâu đợi chờ, cái nồng nàn tan chảy, cái thăng hoa hương vị, cái chìm đắm đen mê... những thứ làm cho cái thứ quả du nhập từ một nước xa xôi cách nửa vòng trái đất trở nên mê hoặc, hấp dẫn, đắm đuối... những gã đàn ông và cả những tha thướt đàn bà, khi được xay ra rồi cho vào phin, ngâm nước sôi, và lặng lẽ giọt...

Lịch sử loài người có hai phát minh vĩ đại để tăng chất lượng sống cho con người là sự phát minh ra rượu và... cà phê. Theo thần thoại Hy Lạp thì thần Dionidod là vị thần sáng tạo ra rượu. Nó giúp cho con người (nhất là tầng lớp bình dân) thăng hoa, tạm quên đi những gì đau khổ mà loài người đang và đã trải. Những bồng bềnh mênh mang, những ảo giác thánh thiện, những thăng hoa mây gió... giúp con người nhìn cuộc đời một cách thân thiện hơn, nhân hậu hơn, bao dung và cũng sắc sảo hơn. Cà phê thì ít nổi tiếng hơn rượu, nhưng sang hơn rượu khi nó sinh ra ban đầu là dành cho giới thượng lưu. Những tao nhân mặc khách, những văn nghệ sĩ trí thức, những lượt là thơm tho, những đầu mày cuối mắt, những trơn bóng khoan thai, những đăm chiêu trí tuệ và cả những tò mò khám phá...

Theo từ điển Wikipedia, cà phê là một loại thức uống màu đen có chứa chất caffein và được sử dụng rộng rãi, được sản xuất từ những hạt cà phê được rang lên, từ cây cà phê. Cà phê được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá ra từ vùng cao nguyên Ethiopia. Từ đó, nó lan ra Ai CậpYemen, và tới thế kỉ thứ 15 thì đến Armenia, Persia, Thổ Nhĩ Kỳ và phía bắc Châu Phi. Từ thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý, sau đó là phần còn lại của Châu Âu, Indonesia. Ngày nay, cà phê là một trong những thức uống thông dụng toàn cầu.
Nụ cười cà phê
Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới, trong đó có một số nước xuất khẩu cà phê. Hạt cà phê được lấy từ hạt của các loài cây thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Ba dòng cây cà phê chính là Coffea arabica (Cà phê Arabica) – cà phê chè – và Coffea canephora (Robusta) – cà phê vối cà phê mít - Coffea excelsa – với nhiều loại khác nhau. Chất lượng hay đẳng cấp của cà phê khác nhau tùy theo từng loại cây, từng loại hạt và nơi trồng khác nhau. Cà phê Robusta được đánh giá thấp hơn so với cà phê Arabica do có chất lượng thấp hơn và giá cả theo đó cũng rẻ hơn. Loại cà phê đắt nhất và hiếm nhất thế giới tên là Kopi Luwak (hay "cà phê chồn") của IndonesiaViệt Nam. Đây không phải là một giống cà phê mà một cách chế biến cà phê bằng cách dùng bộ tiêu hóa của loài cầy. Giá mỗi cân cà phê loại này khoảng 20 triệu VND (1300 USD) và hàng năm chỉ có trên 200 kg được bán trên thị trường thế giới.

 Không giống như các loại đồ uống khác, chức năng chính của cà phê không phải là giải khát, mặc dù người dân Mỹ uống nó như thức uống giải khát. Nhiều người uống nó với mục đích tạo cảm giác hưng phấn. Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 8 năm 2005 của nhà hoá học Mỹ Joe Vinson thuộc Đại học Scranton thì cà phê là một nguồn quan trọng cung cấp các chất chống ôxi hóa (antioxidant) cho cơ thể, vai trò mà trước đây người ta chỉ thấy ở hoa quả và rau xanh. Những chất này cũng gián tiếp làm giảm nguy cơ bị ung thư ở người.

Tất nhiên ai cũng hiểu cà phê ngon nó không chỉ ở chất lượng ly cà phê, mà còn phụ thuộc vào gu khách uống, vào không gian, văn hóa, không khí, thói quen... bởi nếu chỉ cần chất lượng, thì rất nhiều người dư khả năng bỏ chục triệu bạc mua nửa cân cà phê chồn hảo hạng về tự pha. Thế mà số người làm thế rất ít, nếu không muốn nói là không có. Cũng nói luôn, với tư cách là một người nghiện cà phê sáng hơn một phần tư thế kỷ nay, tôi nghi ngờ cái gọi là cà phê chồn mà các quán thi thoảng trưng ra. Tất nhiên là có, nhưng không nhiều đến mức đi đâu cũng có, quán nào cũng giới thiệu trong menu. Theo tài liệu mà tôi dẫn trên kia thì mỗi năm cả thế giới chỉ có chừng hai trăm ki lô gam cà phê chui qua đít chồn trở thành đặc sản cho con người, khiến cho con người có thể vênh mặt khoe với bạn cái thú chơi cầu kỳ quái đản nhưng chưa chắc đã ngon (vì đã mấy ai được uống đâu?). Lại nhớ cụ Nguyễn Tuân sáng chế ra loại rau muống cạn bằng cách cắt sát đất đi rồi lấy cái vỏ ốc nhồi úp lên để khi nó lên thì cứ non nhểu trắng hếu cuộn tròn trong vỏ ốc. Thì cụ nghĩ ra thế, tả ra thế, viết ra thế, chứ những người sành ăn nói ngay rằng nó không ngon, nó không còn là rau muống nữa, nhưng vẫn phục sự tưởng tượng của cụ, thế thôi.

Đọc văn học Anh, Nga, Pháp... thấy nhắc đến những quán cà phê đầy ấn tượng. Nơi này Gô Gôn đã ngồi, chỗ nọ Ban Zăc đã duỗi chân, bàn đằng kia là Đich Ken kê bút... chao ơi là sung sướng ngất ngây con gà tây, chỉ mong ước một lần đến. Rồi trong nước những là cà phê Lâm, cà phê Giảng, cà phê Quỳnh Bát Đàn ở Hà Nội, cà phê Thọ, cà phê Chiều, cà phê Bến Nghé ở Huế, rồi những gì gì cà phê mà nhắc đến địa danh ấy là người ta nhớ ngay đến quán cà phê ấy. Bởi nghĩ cho cùng, đến một nơi lạ, sau một ngày khám phá thăm thú, thì buổi tối việc duy nhất tao nhã mà ta làm là kiếm một quán cà phê nổi tiếng, ngồi nhâm nhi thư giãn và ngẫm nghĩ. Nổi tiếng không có nghĩa là to lớn hiện đại, mà là bản sắc và thời gian, là cái gu cái không khí, là cái tinh tế dịu nhẹ tôn trọng khách, gần gũi thân thiện và lại cởi mở khát khao, vậy nên nhiều quán "nổi tiếng" mà nhiều khi chỉ kê vừa đủ 4 cái bàn nhỏ cho chưa đầy hai chục người ngồi...

Cái tiếng nhiều khi nó vượt qua chất lượng. Tôi đã uống cà phê Lâm Hà Nội. Quán cà phê này nổi tiếng khiến bất cứ ai đã đến Hà Nội là phải tìm đến. Nhưng chất lượng cà phê không đi cùng với cái danh. Bù lại đến đây ta gặp rất nhiều danh tiếng chữ nghĩa Hà thành túm tụm, lưng cọ lưng, vai kề vai vì... quán chật. Nơi đây các danh họa Việt Nam Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên... đã ngồi mòn hết cả thời tuổi trẻ của họ. Ngồi tán gẫu rồi hứng lên là vẽ, có gì vẽ nấy. Vẽ xong để lại cho chủ quán... gán nợ. Về sau ông Lâm này trở thành nhà sưu tập tranh nổi tiếng Việt Nam. Bây giờ nơi đây vẫn đông các "hảo thủ", các danh nhân Hà thành sáng sáng đến... hành lễ cà phê.

Thì ra cà phê nổi tiếng có khi lại nhờ vào... khách uống.

Nhớ có hồi cà phê Trăng ngàn đường Trần Hưng Đạo Pleiku rất đông nhà văn nhà báo tụ tập mỗi sáng. Cứ lần lượt đến rồi đi, ai đến sau trả tiền. Sau này ông chủ đi ra nước ngoài, quán sửa lại, tự nhiên cánh nhà văn nhà báo lảng đi đâu cả. Trước đấy là Kim Liên. Ông Giáp chủ quán Kim Liên là người đã gắn cả cuộc đời với cái danh Kim Liên, không biết vô tình hay hữu ý, nhưng có một thời, bất cứ văn nghệ sĩ nào đến Pleiku đều được ông mời về nhà, nhẹ nhàng thì cữ cà phê sáng, nặng hơn đậm hơn thì đãi cơm rượu. Các ông Nguyên Ngọc, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khắc Trường, Trung Trung Đỉnh, Thái Bá Lợi... đã đến đây, các vị Trần Thu Hà, Trần Tiến, Nguyễn Chánh Tín, Trần Hiếu... đã ghé đây. Cũng không hiểu trong nhà ông có ý thức sưu tập không, chứ cứ mỗi ông mỗi bà đến ông chụp một kiểu ảnh thì giờ cũng kha khá một gian trưng bày lớn.

Cũng không dễ gì để trở thành một "môn đồ" cà phê, nhưng đã nghiện nó rồi, tôi còn thêm một kênh cảm xúc là tự hào về nó...

Văn Công Hùng