Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010
Hậu hiện đại (phần 2)
Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010
Hậu hiện đại (phần 1)
- Nguồn gốc danh từ hậu hiện đại.
- Hành trình tư tưởng của JF Lyotard.
- Việc dịch một số danh từ trong sách của Lyotard.
Nguồn gốc danh từ
- về tôn giáo, Modernisme là phong trào cải cách tôn giáo, nhằm mục đích hiện đại hóa đạo thiên chúa, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chỉ toàn bộ những lý thuyết và khuynh hướng có mục đích làm mới việc chú giải thánh kinh, cải tổ học thuyết xã hội và quản trị giáo hội, sao cho phù hợp với nhu cầu khoa học của thế kỷ XX; đặc biệt cuộc khủng hoảng tôn giáo dưới thời đức giáo hoàng Pie X (1903-1914) ở Pháp và ở Ý. Những tư tưởng cải cách này, bị nghị định Lamentabili và sắc lệnh Pascendi của giáo hội kết án nghiêm khắc năm 1907.
- về văn học, Modernisme (Modernismo) chỉ trào lưu văn học phát xuất từ châu Mỹ la tinh năm 1890, của một số nhà văn, nhà thơ, viết tiếng Tây Ban Nha mà người khai phá là Ruben Dario ( Nicaragua), muốn thoát khỏi ảnh hưởng Tây Ban Nha, nhưng lại nghiêng về nhóm Thi sơn (Parnasse), (Thi Sơn do Théophile Gautier đề xướng, tập hợp trong một thi tuyển ba cuốn, tác phẩm của những nhà thơ rất khác nhau như: Gautier, Leconte de Lisle, Baudelaire, Banville, Heredia, Sully Prudhomme, Verlaine, Mallarmé, Coppée,... nhưng có cùng một chí hướng: chống lãng mạn, chủ trương đổi mới hình thức, đề cao quan niệm vô ngã trong thơ và nghệ thuật vị nghệ thuật) và nhóm Tượng trưng (Symbolisme) của Pháp.
- Ngoài ra, Modernisme, còn chỉ phong trào văn chương nghệ thuật ở Brésil, phát sinh từ São Paulo năm 1922, tìm những chủ đề thiên nhiên và văn hóa dân tộc.
Tính cách châm biếm cực kỳ này phát triển mạnh mẽ trong kiến trúc hậu hiện đại những năm 60-70, tạo ra những công trình tân kỳ như nhà kính "lộ thiên" giữa sân bảo tàng viện Louvre, và đôi khi kỳ cục như trung tâm văn hóa Pompidou ở Paris, vượt ra ngoài tất cả những khuôn khổ trường phái đã có.
Sự nổi dậy của sinh viên Pháp xuân 68 -mà Lyotard là một trong những người thầy đã đóng góp tích cực- đã dẫn đến cuộc "cách mạng văn hóa toàn cầu", chống lại tất cả những hình thức thủ cựu, áp đặt của các chế độ văn hóa, chính trị cũ, đặc biệt ở Pháp dưới thời hai tổng thống De Gaulle và Pompidou. Người ta cần một không khí dễ thở hơn, cần tự do hơn, cần những cái mới, tìm mọi cách sáng chế ra những chủ đề tân kỳ, những chữ mới lạ, bởi tất cả đều trở nên cũ kỹ, "phản tiến bộ".
Hành trình tư tưởng của Lyotard
Jean Francois Lyotard (1924-1998), triết gia Pháp, sinh ngày 10/8/1924 tại Versailles. Đậu thạc sĩ triết học năm 1950, sau đó dạy trung học ở trường Constantine (Algérie) từ 50 đến 52. Trở thành trợ giáo (assistant) tại Sorbonne năm 1959 và giảng viên (maitre assistant) tại đại học Paris X (Nanterre) năm 1966. Từ 1973, trở thành giáo sư (professeur) ở Paris VIII và các đại học khác ở Mỹ. Trong hai năm, từ 84 đến 86, JF Lyotard kế tiếp Jacques Derrida trong ghế chủ tịch Viện triết học quốc tế (Président du collège international de philosophie), do Derrida sáng lập và làm chủ tịch từ 1983.
Ngay từ 1954, Lyotard đã gia nhập nhóm Socialisme ou barbarie (Xã hội hay dã man) do Lefort và Castoriadis cùng những chiến hữu Đệ Tứ Quốc Tế, thành lập từ 1949.
1964, nhóm này bị phân liệt, Lyotard tham dự việc hình thành nhóm Pouvoir ouvrier (Quyền lực thợ thuyền) đến 1966, bỏ.
Con đường tư tưởng của Lyotard có thể chia làm hai giai đoạn:
Thời kỳ đầu, chịu ảnh hưởng của triết học Husserl và Merleau-Ponty (La phénoménologie, 1954), chủ nghĩa mác-xít và phân tâm học (Dérive à partir de Marx et Freud, 1973), JF Lyotard trong cuốn Discours, Figure,1971, cố gắng vượt qua giới hạn của hiện tượng luận, ông dựa trên lý thuyết của Freud, về những ham muốn không ý thức được trong vô thức của con người, để thiết lập một thứ "thẩm mỹ mang tính chất hình tượng" (beauté figurale) với những đặc tính rời rạc, đứt khúc, không nối kết (non liée), man dại (sauvage) tiềm ẩn trong nghệ thuật hiện đại.
Năm 1975 đánh dấu ngõ quặt lớn trong tiến trình tư tưởng của Lyotard: đột nhiên, bỏ hẳn triết lý nhục dục, bởi vì -sau này ông cho biết- nó không cho phép ông đặt vấn đề với sự bất công (l'injustice), không cho phép ông điều tra về thân phận tri thức, chất vấn tính chính đáng của các grands récits (siêu văn bản).
Chịu ảnh hưởng của Wittgenstein, Lyotard quay sang nghiên cứu những récits và những jeux de langage (trò chơi ngôn ngữ) mà số lượng hằng hà, không thể liệt kê, tổng kết, để kéo chúng vào một đơn vị duy nhất dưới sự "điều khiển" của một thứ métalangue (siêu ngôn ngữ) hoặc một métarécit (siêu văn bản) có tính cách toàn diện.
Một số danh từ
Tác phẩm của Lyotard dựa trên một số danh từ chủ chốt, nếu không nắm vững nội dung sử dụng của tác giả thì khó có thể đi xa hơn trong việc tìm hiểu tác phẩm. Đó là những chữ récit, métarécit, grand récit, petit récit, légitime, légitimation, savoir, jeux de langage, v.v...
I- La condition postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại)
Trong cuốn Au juste (Đúng ra) viết cùng với JL Thébaud, in năm 1979, Lyotard cũng đã trình bày lập thuyết: muốn đánh đổ sự "độc tài" của những métarécit, méta-langage (siêu văn bản, siêu ngôn ngữ) tượng trưng sự "bất công tuyệt đối" thì phải bảo tồn tính chất đa dạng của các "trò chơi ngôn ngữ" trong các petits récits (vi văn bản).
Cuốn La condition postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại) đặt quan điểm này trong bối cảnh lịch sử hiện đại và "hậu hiện đại", tiếp tục khai triển lập thuyết này và coi nó như điều kiện sống còn của tri thức trong xã hội hiện tại.
1- "Định nghĩa" hậu hiện đại
"Chuyên luận này có đối tượng là thân phận của tri thức trong những xã hội phát triển nhất. Ta đã quyết định gọi nó là "hậu hiện đại" (Cette étude a pour objet la condition du savoir dans les sociétés les plus développées. On a décidé de la nommer "postmoderne") (trang 7).
- Hậu hiện đại là thân phận của tri thức trong những xã hội phát triển nhất.
- Hậu hiện đại là sự hoài nghi các siêu văn bản.
Chương 1: Xác định phạm vi khảo sát: số phận tri thức trong xã hội vi tính hóa.
Chương 2: Xác định vấn đề: sự chính thức hóa hay chính thống hóa (la légitimation).
Chương 3: Xác định phương pháp phân tích những trò chơi ngôn ngữ.
Chương 4: Giao thế hiện đại.
Chương 5: Viễn ảnh hậu hiện đại.
Chương 6 và chương 7: Tri thức trần thuật (savoir narratif) và tri thức khoa học.
Chương 8: Chức năng trần thuật và sự chính thống hóa tri thức.
Chương 9: Những văn bản của sự chính thống hóa tri thức.
Chương 10: Sự mất thẩm quyền (la délégitimation) của các siêu văn bản.
Chương 11: Nghiên cứu và sự chính thống hóa nghiên cứu dựa trên thành tích.
Chương 12: Giáo dục và sự chính thống hóa giáo dục dựa trên thành tích.
Chương 13: Khoa học hậu hiện đại: sự nghiên cứu những bấp bênh, vô thường (les instabilités).
Chương 14: Chính thức hóa bằng ngộ luận (lý luận sai) (paralogie).
1- Trình bầy số phận của tri thức trong các xã hội vi tính hóa.
2- Chứng minh tính cách áp đặt của khoa học đối với văn bản trong quá khứ và hiện đại.
3- Hậu hiện đại là tình trạng mất thẩm quyền của các siêu văn bản và sự hiện hữu của các vi văn bản.
4- Khoa học hậu hiện đại dựa trên sự nghiên cứu những bấp bênh, vô thường, để cho những cái gọi là sai, cũng sẽ được quyền sống như những cái được gọi là đúng.
Đây là một cuốn sách triết học mà tác giả trình bày chặt chẽ dòng tư tưởng chủ lưu của mình: Đả phá những hệ thống lập thuyết đã có sẵn. Tố cáo tình trạng khoa học -dựa trên những phương pháp luận cứng ngắc -tự xem mình là chính danh, để phán xét đúng, sai một cách máy móc. Phê phán "văn minh vi tính" đã giúp cho đường lối chính thống này phát triển: cái gì được mã hóa (numériser, digitaliser) để đưa vào máy móc vi tính sẽ được giữ lại, cái gì không mã hóa được sẽ bị đào thải. Lyotard biện hộ cho một tinh thần bình đẳng giữa những cái "lớn" và cái "bé", giữa những lý thuyết lớn, nhỏ, giữa những truyện lớn, truyện nhỏ, giữa những văn bản lớn, văn bản nhỏ, bằng một lập thuyết đi từ sự khảo sát bản thể của ngôn ngữ. Điều mà ông đòi hỏi là quyền sống của những cái mà ông gọi là vi văn bản.
2- Thân phận tri thức
Xã hội hiện đại trước đây được chia làm hai mô hình:
- Xã hội cơ khí, kiểu Talcott Parsons, dựa trên sự chạy đua thành tích và lợi nhuận để phát triển.
- Xã hội mác-xít dựa trên nguyên tắc đấu tranh giai cấp để giải phóng con người.
Sự thất bại của hai mô hình xã hội này mà lý thuyết đều dựa trên phương pháp luận của thế kỷ XIX, đưa đến câu hỏi: Thân phận của tri thức trong xã hội kỹ nghệ tân tiến ra sao? Và ông trả lời:
Tri thức chỉ có giá trị khi nó không dính liền và hòa tan với bộ máy khổng lồ của xã hội mà phải là một nguyên tắc phản đối. Nói cách khác, tri thức phải tự lựa chọn một trong hai con đường: đồng nhất hay đối đầu, vận hành (xã hội) hay phê phán (xã hội). Những quyết định thường rất khó, hoặc bất kỳ, tùy tiện. Muốn thoát khỏi tình trạng này, người ta tìm cách phân biệt hai loại tri thức: một loại tích cực, có thể sử dụng trong những kỹ thuật sản xuất; và một loại có tính cách phê phán hay dẫn giải, có nhiệm vụ kiểm tra những "giá trị", những "mục đích", và ở vị thế đó, nó là trở lực cho tất cả mọi hình thức lạm dụng tư tưởng.
Ảnh hưởng triết ngữ học của Wittgenstein và cấu trúc luận, Lyotard đề nghị cách tiếp cận xã hội như tiếp cận ngôn ngữ. Theo ông, xã hội có cấu trúc như một cấu trúc ngôn ngữ. Liên hệ xã hội cũng là liên hệ ngôn ngữ. Trường hợp Robinson Crusoé là một ví dụ hiển nhiên: nếu sống một mình không ai trò chuyện, không hỏi đáp, thì không có liên hệ, không có xã hội.
Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2010
Nối vòng tay lớn
Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009
Thơ viết cho ngày Noel

Không em
Anh như chiếc lá khô lạc trên cội đá
Rơi...
Noel
Xa em
Anh lang thang qua miền tuyết trắng
Khát...
Noel
Nhớ em
Anh nhốt mình trong căn phòng hoang trống
Lạnh...
Anh nguyện cầu Đức hài đồng Thiên Chúa
Gặp lại em vào một buổi bình minh
Nghe giọt nắng cựa mình trong tiếng lá
Hai linh hồn hai nhịp đập hồi sinh.
Thứ Ba, 1 tháng 12, 2009
Nghiện thơ
Có lẽ hiếm có một dân tộc nào trên thế giới mà người dân lại dành cảm tình đặc biệt cho thơ ca như người dân Việt Nam, vì rằng "Thơ ca là tiếng nói tối thượng của con người" (J.Brodsky). Hay nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: "Thơ ca không làm ra lúa vàng, gạo trắng nhưng thơ ca làm nên giấc mơ cho người gieo trồng. Chỉ có những giấc mơ thiêng liêng và lộng lẫy mới giúp con người đi qua bóng tối của dục vọng và tội lỗi và tìm đến đồng loại để chia sẻ và dâng hiến những vẻ đẹp và những khát vọng sống cho mọi con người". Thơ ca là sự chân thực của cuộc sống, là khát vọng, là tự do của mỗi con người.
NGHIỆN THƠ
Bây giờ hình như anh em nhà thơ trẻ không nghiện đọc thơ như thời của mình và lớp đàn anh của mình nữa. Có thể thời này đời sống chảy xiết hơn, anh em ít có điều kiện đàn đúm. Thêm nữa việc in thơ dễ dàng, không có tiền in sách thì post lên blog một phát cả vạn người đọc, nhu cầu truyền khẩu thơ cũng vì thế mà giảm sút chăng?
Ngày xưa in được bài thơ khó lắm, anh nào một tháng có bài thơ in là mừng lắm rồi. Gửi thơ đi rồi, ngồi phấp phổng chờ cả tháng, thấy tên mình xuất hiện ở hộp thư càng phấp phổng tợn, nếu quen ai ở toà soạn gọi điện nói số tới đi bài ông đấy, tâm hồn lúc đó treo ngựơc cành cây. Mỗi tháng toà soạn nhận ngót nghét ngàn bài thơ, chỉ in chục bài, lọt vào cái top ten ấy không mừng sao đựơc.
Người chăm gửi thơ nhất nước là Trần Hữu Nghiễm ở Cà Mau, cho đến nay chưa thấy ai hơn. Những năm tám mươi chín mươi tìm đọc hộp thư của bất kì tờ báo nào đều có tên Trần Hữu Nghiễm, anh thật tài, báo nào mới ra anh cũng biết. Một hôm mình nhận được tờ Đặc san Ngân hàng Quảng Trị, mình ở Quảng Trị mà không biết nó ra khi nào, thế mà anh ở tận Cà Mau đã kịp có tên trong hộp thư rồi. Đến cả tờ Vật lý Việt Nam cũng có tên anh trong hộp thư, thất kinh.
In được bài thơ là vui chứ xưa nay chưa ai sống được bằng nhuận bút thơ cả. Cứ theo cách gửi thơ của Trần Hữu Nghiễm thì nhuận bút một bài thơ không đủ tiền tem thư anh gửi thơ đi hàng tháng tháng.
Làm ra bài thơ không ai đọc cho nghe cho thì khó chịu lắm, cứ bứt rứt không yên. Gửi thơ đi, chờ người ta in cho thì lâu lắm, thế là nhát định kiếm cớ đàn đúm để đọc thơ. Xưa cuộc rượu nào có mấy anh nhà thơ nếu không có đọc thơ thì chưa ra cuộc rượu.
Ngồi uống cứ nhấp nhổm chờ ai đó nhắc đến tên mình, nói ông có bài nào mới đọc cho anh em nghe đi, có người nghe vậy liền háo hức đọc ngay, có người thì giả đò khiêm tốn, nói cũng có nhưng sợ không hay, đợi người ta nèo thêm chút nữa, tóm lại rồi đọc cả.
Vừa đọc vừa ngó liếc mặt người nghe, thấy người ta chăm chú thỉnh thoảng gật gật đã sướng, nếu ai đó chậc lưỡi, đập đùi khen câu này câu kia hay thì sướng muốn chết, lại tương bài khác ngay. Có người vì thế mà tương cả chục bài. Chiếu rượu thơ cũng giống blog, không khen được thì thôi chứ ít ai chê, gì chứ đựơc khen thì nghe không biết chán, ít ai thấy khen sai, toàn thấy khen đúng không thôi, hi hi.
Được khen, được hưởng ứng thì dễ nghiện ngập lắm, xưa mười anh làm thơ thì có 8, 9 anh nghiện đọc thơ. Nam Bộ có tục uống rượu vòng, một bát rượu truyền tay uống một vòng, rồi lại sang vòng khác, tục ấy được các áp dụng cho chiếu rượu thơ, rượu truyền tay thơ truyền miệng, rượu càng say thơ càng bốc, nhiều khi thâu đêm suốt sáng.
Năm 1988 Phùng Quán vô Huế chơi, anh đi đâu có chiếu rượu thơ ở đó, lại uống rượu vòng đọc thơ vòng. Rất nhiều lần tại nhà anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) có chiếu rượu thơ, hầu hết là các nhà thơ khét tiếng ở Huế, rượu và thơ cứ thế tuôn ào ào. Anh Quán cầm còn dao phay đi vòng vòng quanh chiếu rượu, chỉ định người đọc thơ, nói đọc thơ dở là xử trảm. Người nào đọc thơ xong anh đều dơ dao lên phồng mang trợn mắt, nói trảm được không. Mọi người kêu lên, nói không không, thơ hay thơ hay. Tóm lại ai cũng được tha chém, lại còn được khen thơ hay, sướng củ tỉ.
Năm 1989 Bình trị Thiên chia tỉnh, chia gì thì chia chứ văn nghệ chẳng bao giờ chia, một hôm các nhà thơ ba tỉnh tụ cả về thị xã Đồng Hới, được tỉnh uỷ đón tiếp rất trọng thị, anh Quán cũng có mặt hôm ấy. Bí thư tỉnh uỷ nói chuyện dài quá, anh em ngồi nghe hơi oải, anh Quán dơ tay vụt đứng lên, nói báo caó đồng chí Bí thư, rồi anh nhoẻn miệng cười gãi tai hạ giọng, nói anh em sèm đọc thơ quá rồi. Bí thư tỉnh uỷ cười to, nói vâng vâng, mời các đồng chí. Cuộc thơ hôm ấy anh Quán làm MC rất xôm trò, anh em được một bữa thơ đã đời.
Tuy nhiên, nhiều người nghiện ngập đọc thơ quá, hễ có thơ mới là xách xe chạy rong, quyết tìm người bày rượu đọc thơ cho kì được. Có anh vào cuộc rượu chẳng biết người ta đang nói chuyện gì, cứ ngửa cổ đọc thơ nói cười khơ khớ, vô duyên cực. Có anh chẳng cần chiếu rượu, gặp nhau hỏi thăm chiếu lệ, rồi bất kể đứng ngồi ở đâu, người ta có thích nghe hay không, khoa chân múa tay đọc liền mấy bài, chán ốm.
Dần dà người ta đâm sợ chiếu rượu thơ, nhiều khi thấy vừa vô duyên vừa vô nghĩa. Ai gọi đi nhậu mà nghe nói có ông A ông B nghiện đọc thơ lắm thì thế nào cũng viện cớ từ chối. Thế cùng không chối được thì đến ngồi ké vào, đến giờ đọc thơ thì mắt trước mắt sau kiếm cớ chuồn liền thẳng.
Còn nhớ năm 1988 ở Huế, mình với anh Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh, và vài người nữa quên mất rồi, ngồi quán rượu chị Phước thì Lý Hoài Xuân ghé vào. Vừa ngồi xuống anh đã nói có mấy bài thơ mới làm, đọc cho anh em nghe nhé. Anh Tạo nói mày muốn đọc thơ thì bỏ tiền ra trả nhuận nghe cho tụi tao, một bài ba ngàn.
Tưởng Lý Hoài Xuân tự ái, ai dè anh lẳng lặng bỏ ra ba ngàn, thản nhiên đọc một bài thơ. Anh em vừa cười vừa khen hay hay, Lý Hoài Xuân lại bỏ ra sáu ngàn đọc thêm hai bài nữa. Anh em lại khen hay hay- tất nhiên hi hi- anh Xuân sướng định đọc thêm nữa, anh Tạo nói thôi thôi, chừng đó tiền tụi tao uống nhoè rồi, mày không phải đọc thêm nữa. Thế mới biết ngay các nhà thơ cũng ngại nghe thơ nhau, đừng nói người ngoài.
Cái gì cũng vậy, cứ quá đi là mất hay. Tình trạng nghiện thơ, nghiện đọc thơ, nghiện in thơ đang gia tăng đến mức báo động. Cứ nhìn vào danh sách đơn xin vào Hội nhà văn thì biết, có đến 90% là của các nhà thơ, hàng năm có đến mấy trăm nhà thơ xin vào hội. Kinh.
Không biết có ai đó nói về tình trạng lạm phát thi ca, hình như là Nguyễn Huy Thiệp, nói đại ý ở đâu cờ bạc và thi ca phát triển ở đó nghèo đói là cái chắc. Anh Đỉnh (Trung Trung Đỉnh) thì cười hì hì, nói kiểu này Hội nhà văn phải lập trại cai nghiện thơ, không thì chết, nguy lắm nguy lắm.
Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2009
Lời tỏ tình của chàng trai Nhiệt - Lạnh

Tình yêu là một đề tài muôn thuở của nhân loại. Đã là nhà thơ hay nhà văn chuyên nghiệp ai cũng đã từng một lần viết về nó với tất cả say mê, rạo rực, yêu thương, điên dại của con tim đầy nhân bản. Không say mê, không điên dại sao được khi đó là thứ tình cảm đẹp nhất mà Thượng đế đã ban tặng cho con người. Mỗi người có một kiểu yêu khác nhau, một kiểu say mê khác nhau. Trong con mắt họ, tình yêu hiện lên với nhiều dáng vẻ: đằm thắm, kiêu sa, giản dị, chân thành, yếu đuối, mạnh mẽ,.. và còn rất nhiều mỹ từ nữa để nói về tình yêu. Thử hỏi còn có một thứ tình cảm nào mà con người dành nhiều đặc ân đến vậy nếu không phải là tình yêu? Và cũng thử hỏi nếu không có tình yêu thì làm sao con người có thể tồn tại được trên trái đất này?
Đối với dân Nhiệt - Lạnh, tình yêu cũng đẹp lắm. Nó hiện lên không lung linh, không kiêu sa, đài các như những hoa hậu, nhưng cũng đầy mê hoặc. Sự mê hoặc không phải là ở vẻ đẹp bề ngoài hào nhoáng trên sân khấu mà chính là những gì đang hiện hữu trong công việc đầy nắng gió, cát bụi của chúng tôi, những chàng trai - cô gái làm nghề Nhiệt - Lạnh. Từ những pittông, xylanh, bulông, ốc vít khô khốc như vậy mà khi vào thi ca cũng mang một vẻ đẹp lạ kỳ, một vẻ đẹp của sự thô mộc, vẻ đẹp không cần trang điểm.
Nói dông dài nhiều quá rồi, bây giờ xin giới thiệu với các bạn một lời tỏ tình của chàng trai Nhiệt - Lạnh. Bài này do một người bạn của tôi, Nguyễn Thị Thu Hà, hiện là cán bộ giảng trường Đại học Điện lực viết.
----------------------------------------------------------------------
LỜI TỎ TÌNH CỦA CHÀNG TRAI NHIỆT - LẠNH
Về một bài ca hạnh phúc thật gần
Rồi từ đó anh chăm ... xả cặn toàn thân
Trả lại bề mặt truyền nhiệt đã bao năm bị ... đóng cáu
Lòng rộn ràng ...
Vào mỗi chiều thứ sáu
Anh ... nạp lên người một ít ... ga thơm
Khiến anh ước mình được làm ... van phao trong đó
Bởi anh sợ trước cuộc đời bão gió
Đôi mắt trong kia có lúc phải ... xả tràn
Em thấy không: tình anh rất nồng nàn
Trao cả cho em với niềm yêu tha thiết
Xin em đừng nghĩ tim anh chỉ là Tháp Giải Nhiệt (1)
Gió em vào - nếu chán - gió lại ra
Em bí ẩn như ... chế độ quá bão hoà
Anh lạc lối giữa HARTING và MEHLIG (2)
Em yêu ơi, xin hãy cho anh biết
Đừng lặng im như Tháp Giải Nhiệt tạo sương mù !!!
Anh yêu em hơn ... máy nén yêu ga thơm
Hơn ... pittông yêu xilanh từ trăm năm trước
Dẫu đường vào tim em mỏng manh như dòng nước
Thì tình anh vẫn cứ là khối đệm thời gian...
----------------------------------------------------------
(1) - Tháp giải nhiệt là một thiết bị trao đổi nhiệt được sử dụng rộng rãi trong ngành Nhiệt - Lạnh
(2) - Hai tác giả đã nghiên cứu về các quá trình trao đổi nhiệt - trao đổi chất đối với hai dòng lưu chất
Thứ Hai, 16 tháng 11, 2009
Gửi bạn
Bạn tôi chả thiết làm thơ
Đọc xong chỉ thấy ỡm ờ cho qua
Bạn tôi chả sợ tuổi già
“Đằng nào nó cũng không tha bọn mình”
Bạn tôi nửa cuộc đăng trình
Chữ danh còn nợ, chữ tình còn vơi
Bạn tôi vừa chớm ba mươi
Chung vui gặp mặt tiếng cười giòn tan
Bạn tôi nam bắc dọc ngang
Đèo bòng chút nghĩa, nặng mang chốn này
Ngày nao hai kẻ trắng tay
Uống tan vò rượu để say quên về
Giữa đời có gã ngô nghê
Đi đường vẫn gảy khúc quê khóc ròng
Dù bao chớp bể mưa dông
Bạn tôi cứ vậy rực hồng lửa yêu
Tìm về quê mẹ thả diều tắm sông
