Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

Thông điệp về cái Đẹp và Tự do

Thông điệp về Cái đẹp và Tự do là tham luận của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đọc trong Hội thảo: Thơ Đông Á trong thời đại toàn cầu hóa tổ chức tại làng Manhea, Hàn Quốc.

Khi tôi được mời đến dự Diễn đàn thơ này, tôi biết rất rõ rằng: các nhà thơ Đông Á biết quá ít về nền thơ của chúng tôi. Nếu tôi không muốn nói: họ hầu như không biết gì về nền thơ ca đương đại Việt Nam. Đấy là sự thiệt thòi của không chỉ riêng các nhà thơ Việt Nam mà còn là thiệt thòi của một dân tộc. Có lẽ điều mà các bạn biết về dân tộc chúng tôi là những cuộc chiến tranh liên miên hay là một trong vài nước Cộng sản còn lại trên hành tinh này với những vấn đề của kinh tế, của tôn giáo và nhân quyền. Họ chưa biết được trong máu, trong nước mắt và trong những gánh chịu của dân tộc chúng tôi có một nền thơ của nhân cách con người, của cái đẹp và của khát vọng tự do, cho dù trong một thời gian rất dài nền thơ ấy bị lợi dụng đi ra ngoài bản chất khởi thủy của nó. Bởi thế, sự chia sẻ, sự cảm thông và sự hiểu biết về một dân tộc dù bằng cách nào mà không thông qua nền thi ca của dân tộc đó cũng là một sự thiếu hụt trầm trọng. Sự sâu thẳm của tâm hồn với những nỗi cô đơn của số phận, với những đau đớn của lương tâm và những giấc mơ lộng lẫy chỉ có thể được hiển lộ một cách chính xác nhất bằng thi ca. Bởi như J. Brodsky, nhà thơ Mỹ gốc Nga, giải Nobel Văn học, đã nói: “Thơ ca là tiếng nói tối thượng của con người”.

Cách đây không lâu, làng Chùa, nơi tôi sinh ra và lớn lên đã tổ chức Ngày thơ Việt Nam trong chính ngôi Đình của mình. Đình là nơi trang trọng nhất của mỗi làng ở Việt Nam từ trước cho đến bây giờ. Ở Việt Nam từ 5 năm nay có tổ chức Ngày thơ vào tuần thứ hai của tháng Giêng. Đó là những ngày đầu tiên của mùa xuân. Nhiều nhà thơ danh tiếng của Việt Nam đã đến làng Chùa cùng với những người nông dân làng Chùa đọc thơ để cất lên tiếng nói của tâm hồn họ. Trong diễn văn khai mạc Ngày thơ đó, một người nông dân đã thay mặt những người làng Chùa viết: “Nói cho cùng, con đường của mỗi con người, mỗi làng quê, mỗi dân tộc đã và đang đi chính là con đường của tinh thần thơ ca. Bởi thơ ca là sự chân thực và là vẻ đẹp của đời sống, là khát vọng, là dâng hiến và là tự do. Mục đích cuối cùng của nhân loại chính là những điều ấy. Với người làng Chùa, những điều ấy chính là Đạo làm người. Vì thế mà người làng Chùa đã lấy việc làm thơ và yêu thơ từ bao đời nay như việc rèn luyện cốt cách của mình. Người làng Chùa lấy Đức làm gốc và lấy Thơ để truyền Đức. Người làng Chùa hiểu sâu sắc rằng: Thơ ca không làm ra lúa vàng, gạo trắng, nhưng thơ ca làm ra giấc mơ cho người gieo trồng. Chỉ có giấc mơ thiêng liêng và lộng lẫy mới giúp con người đi qua được bóng tối của dục vọng và tội lỗi và tìm đến đồng loại để chia sẻ và dâng hiến những vẻ đẹp và những khát vọng sống cho mọi con người”. Tôi nghĩ, khát vọng của những nhà thơ nông dân làng Chùa của tôi cũng có cùng mục đích của Diễn đàn Vai trò của thơ ca Đông Á trong thời đại toàn cầu hoá do Hiệp hội các nhà thơ Hàn Quốc tổ chức.

Một sự thật là cho đến năm 2002, sau khi tập tuyển Năm nhà thơ hiện đại Hàn Quốc được xuất bản ở Việt Nam do tôi dịch và giới thiệu với sự tài trợ của Daesan Foundation thì bạn đọc Việt Nam mới có một cái nhìn sâu hơn về thơ ca hiện đại Hàn Quốc. Tập tuyển thơ này gồm năm nhà thơ Hàn Quốc : Ko Un, Kim Chi Ha, Park Je Chung, Kwang Kyu-Kim và Shin Kyung-Rim. Điều quan trọng hơn cả sau khi đọc tập thơ này không phải là những hiểu biết về sự phát triển ngôn ngữ thi ca của một dân tộc nhiều điểm văn hoá tương đồng với dân tộc Việt Nam mà là những gì dân tộc Hàn Quốc đã phải gánh chịu với nước mắt và máu, đã khát vọng, đã đứng dậy và bước đi với lòng quả cảm và giấc mơ kỳ diệu của mình và trở thành một dân tộc Hàn Quốc như bây giờ. Những câu thơ của nhà thơ lớn Ko Un viết về dân tộc Hàn Quốc trong bài Bản kinh Phật khắc trên gỗ đã làm thức tỉnh một điều gì đó thật lớn lao và thật hệ trọng trong chính tâm hồn tôi và nhiều bạn đọc Việt Nam:

Và bây giờ, hãy từ từ khép đôi mắt của người, hỡi mảnh đất Hàn Quốc
Để chìm sâu dưới nước ba trăm năm
Nếu chúng ta không làm được như vậy thì không còn con đường nào khác
Là chúng ta phải chìm xuống nước một nghìn năm

Từ khi nền thơ ca hiện đại Việt Nam ra đời, có thể nói nền thơ ca này mới chỉ cất tiếng nói chính thức của mình trên thế giới khoảng 20 năm nay. Trước năm 1975, Việt Nam nằm trong cuộc chiến tranh với người Pháp và người Mỹ. Suốt một thời gian dài đó, thế giới bị phân chia một cách thô bạo thành hai thành phần: đó là các nước trong hệ thống Xã hội Chủ nghĩa và phần bên kia là các nước trong hệ thống Tư bản Chủ nghĩa. Thơ ca hiện đại Việt Nam không có một cơ hội nào xuất hiện ở phía bên kia của thế giới. Nhưng một nửa phía bên này thơ ca hiện đại Việt Nam cũng chỉ xuất hiện như là một dấu mờ nhạt trong những chính sách ngoại giao của hệ thống các Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, chứ không phải là sự tôn vinh vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ ca. Tác phẩm của một số rất ít các nhà thơ hiện đại Việt Nam được xuất bản ở Liên Xô cũ, ở Cộng hoà Dân chủ Đức, ở Tiệp Khắc…Thực sự, sự xuất hiện của thơ ca hiện đại Việt Nam lúc đó không để lại dấu vết gì trong bạn đọc của các nước đó. Những tác phẩm thơ ca đó chỉ là những tác phẩm minh hoạ cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam, ít nhiều ẩn giấu trong đó màu sắc của một cuộc chiến tranh lạnh đầy thù địch và phi văn hoá của con người. Thơ ca hiện đại Việt Nam lúc đó đã không thực hiện đúng bản chất sứ mệnh chân chính của thơ ca. Trong khi đó, các nhà thơ hiện đại và bạn đọc Việt Nam cũng không biết gì về thơ ca của các dân tộc khác trên thế giới. Họ không biết đến thơ Nhật Bản, không biết đến thơ Hàn Quốc, không biết đến thơ Mỹ, thơ Tây Ban Nha, thơ Ai-len… Bởi trong chiến tranh lạnh kéo dài hàng thập kỷ, ngay cả thơ ca của những nước trong hệ thống tư bản cũng bị coi là sản phẩm của một lối sống phương Tây thực dụng. Và Việt Nam trong mắt nhiều người trên thế giới là đất nước của chiến tranh chứ không phải đất nước của một nền văn hoá trong đó có thơ ca.

Chỉ đến những năm cuối cùng của thập kỷ 80 của thế kỷ 20, nghĩa là khoảng gần 30 năm trở lại đây, thơ ca hiện đại Việt Nam bắt đầu mới xuất hiện trước bạn đọc của nhiều nước trên thế giới. Nhưng sự xuất hiện này là xuất hiện của những giọng nói số phận con người trước chiến tranh, trước thù địch, trước bóng tối của tội ác, trước những giấc mơ về tự do và những khát vọng về một thế giới thanh bình. Thơ ca hiện đại Việt Nam trước hết xuất hiện trước công chúng Mỹ, một nước vốn là kẻ thù của người Việt Nam trong một thời gian dài. Cho đến bây giờ tôi vẫn cho rằng: sứ giả hoà bình đầu tiên của dân tộc Việt Nam đến Mỹ sau mấy chục năm chiến tranh giữa hai dân tộc chính là những bài thơ và những nhà thơ Việt Nam. Người Mỹ đã nhìn lại dân tộc Việt Nam như một dân tộc của văn hoá và thơ ca chứ không phải là một đất nước của chiến tranh và của một nước Cộng sản. Và chỉ thông qua những nhà thơ Việt Nam cùng tác phẩm của họ, người Mỹ và các nước không cùng hệ thống chính trị khác trên toàn thế giới mới nhận biết được dân tộc chúng tôi. Những người Mỹ đã từng ủng hộ Chính phủ Mỹ trong chính sách cấm vận Việt Nam bắt đầu nhận thức lại dân tộc chúng tôi. Họ nhận thấy sự tương đồng trong những vẻ đẹp đời sống và khát vọng thẳm sâu của con người Việt Nam về thế giới này qua những bài thơ của các nhà thơ hiện đại Việt Nam đã xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Mỹ. Và Mỹ, theo thống kê của tôi, đã trở thành nước trên thế giới giới thiệu có hệ thống và nhiều nhất nền thơ ca hiện đại của Việt Nam cho bạn đọc Mỹ. Đặc biệt là những bạn đọc Mỹ trong hệ thống các trường đại học ở Mỹ. Mấy năm gần đây, thơ ca hiện đại Việt Nam đã bắt đầu được giới thiệu có hệ thống trên một số tạp chí thơ ca và phê bình của Hàn Quốc. Việc tôi được mời đến đây tham gia diễn đàn cho thấy ý thức của những người tổ chức diễn đàn về sứ mệnh của thơ ca của dân tộc này đối với một dân tộc khác.

Thế gian chưa bao giờ ngừng máu chảy và nỗi thù hận. Nhưng con người của thế gian mỗi ngày thêm gần nhau hơn, họ đang tạo ra một cộng đồng rộng lớn hơn với một nền văn hoá đa bản sắc và đầy tính nhân bản. Sự khác biệt về chính trị, về luật pháp hay phong tục của các dân tộc trên thế gian có thể sẽ mãi mãi còn. Nhưng sự thống nhất về tương lai của thế giới trong khát vọng và ý thức của chúng phải được đồng nhất hoá: đó là sự công bằng của con người, tính nhân bản của con người và khát vọng tốt đẹp của con người. Các chính trị gia còn rất ít người nghĩ đến điều đó một cách cụ thể, nhưng các nhà thơ đã và đang làm điều đó một cách bền bỉ từ khi thơ ca xuất hiện trong thế giới loài người. Kể cả khi các nền thơ ca chưa được ký tự hoá bằng chữ viết của dân tộc họ và cả khi một nền thi ca nào đó bị đàn áp bởi các Nhà nước độc tài.

Thơ ca các nước Đông Á là một phần thơ ca của nền văn hoá phương Đông. Sự huyền diệu của nền văn hoá này nói chung và sự huyền diệu của nền văn hoá các nước Đông Á đang càng ngày càng lan toả trong một thế giới quá nhiều lý trí và bị hệ thống hành chính của đời sống hậu hiện đại công nghiệp làm cho thô cứng. Cái tận cùng của lý trí nhiều lúc quá thô thiển sẽ là sự đổ vỡ tâm lý và làm giới hạn con mắt thứ ba của con người. Bởi đời sống, kể cả trong cái chết và sự bất động trong một hình thức nào đó, cũng luôn luôn là sự vô tận chứa đựng và luôn luôn mở ra những bí ẩn kỳ diệu. Tôi chưa biết nhiều đến thơ Hàn Quốc ngoài một số tác phẩm của 5 nhà thơ Hàn Quốc mà tôi đã đọc và đã dịch. Nhưng những gì tôi đọc được đã cho tôi nhận thấy con đường của nhân loại trong những tác phẩm thơ ca đó. Xuyên qua máu chảy, xuyên nước mắt, xuyên qua những dị biệt và sự thù hận và xuyên qua chủ nghĩa vật chất của đời sống hiện đại là con đường của những vẻ đẹp tinh tế và những tư tưởng thẳm sâu, đôi khi nó mơ hồ như sự mở cánh của những bông hoa trong giá lạnh ở ngoại ô Seoul mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một người Việt Nam chúng tôi, đã nhìn thấy trong những bài thơ Thiền của nhà thơ Ko Un. Và thế giới, tôi thấy, không có cách nào cảm nhận được con đường thực sự của nhân loại bằng cách cảm nhận đó. Và thơ Đông Á nói riêng đã và đang cho thế giới một cách cảm nhận về con đường của mình.

Thơ ca Đông Á nói riêng và văn hoá phương Đông nói chung đã và đang mang lại cho thế giới một sự cảm nhận cần thiết và chính xác về chính đời sống của mình và nỗi sợ hãi về sự tàn lụi của đời sống con người. Sự giải phóng hiệu nghiệm nhất những bế tắc của đời sống con người là sự tự nở hoa trong tâm hồn của chính con người. Thơ ca là con đường dẫn con người đến sự tự nở hoa đó. Toàn cầu hoá không phải là sự thống nhất về hệ thống chính trị hay kinh tế của mọi dân tộc trên thế giới. Bởi thơ ca không bao giờ làm được điều đó. Khi thơ ca chạm vào điều đó thì bản chất của nó ngay lập tức bị huỷ diệt. Có một thời gian dài ở Việt Nam, những người kiểm duyệt luôn luôn tìm kiếm những ý đồ phản kháng trong các tác phẩm thơ của các nhà thơ Việt Nam. Và tôi đã phải nói với một số chính khách Việt Nam rằng: dù có cung cấp vũ khí và đô la cho tất cả các nhà thơ, nhà văn Việt Nam thì họ cũng không biết làm thế nào để lật đổ Chính phủ được. Sứ mệnh của thơ ca trong toàn cầu hoá là sự lan toả của thế giới tâm linh trong mỗi con người đang sống trên thế gian này. Đó không phải là sự thống nhất tôn giáo. Nó cao hơn mọi tôn giáo. Đó là sự lan toả của vẻ đẹp huyền diệu và sự tĩnh lặng vô tận trong tâm hồn con người. Tôi muốn đưa ra một ví dụ cụ thể hơn và đơn giản hơn rất nhiều; đó là những Vườn Nhật Bản trong những gia đình ở Mỹ và một số nước châu Âu mà tôi nhìn thấy. Sách hướng dẫn làm những khu vườn như thế này được xuất bản nhiều hơn ở các nước đó. Đó không phải là một thú chơi. Đó là sự cảm nhận về cái tĩnh lặng của tâm hồn. Toàn cầu hoá là sự chia sẻ, sự hoà đồng và sự nhận thức về sự chia xẻ và hoà đồng đó.

Trong bài viết sơ lược và ngắn ngủi này, tôi không có tham vọng gì hơn là bày tỏ một phần trong sự nhận thức của mình về sứ mệnh thơ ca của từng nhà thơ, thơ ca của từng dân tộc và thơ ca của từng khu vực đối với đời sống tinh thần của nhân loại đang có quá nhiều thách thức và nguy cơ bị hoang hoá. Và qua đây, tôi cũng bày tỏ ý thức của những nhà thơ chân chính Việt Nam, một đất nước mà những ngày của hoà bình quá ít ỏi trong hơn 10 thế kỷ qua. Một đất nước đã luôn luôn tìm mọi cách loại bỏ chiến tranh và từ bỏ hận thù để mang văn hoá nói chung và thơ ca của mình nói riêng đến với con người. Nhưng nó cũng bị những thế lực phi văn hóa chống lại và nhiều lúc làm cho chảy máu.

Nguyễn Quang Thiều

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2009

Trịnh Công Sơn: người lắng âm vọng nhân sinh

Cái bóng trăm năm luôn ám ảnh trong suy tưởng và trong cảm xúc của Trịnh Công Sơn. Nói theo giọng phân tâm học, ông có lẽ thuộc về kiểu nghệ sĩ mà bản năng chết (thanatos) mạnh hơn bản năng sống (eros). "Cái nhìn", và tất nhiên, cả "cái nghe" của ông, chịu lực hút chủ đạo không phải từ sự sinh trưởng- khoẻ khoắn - ấm áp - tươi vui, mà là từ những gì tàn lụi - héo úa - mòn mỏi - u sầu - lạnh lẽo.
Trong chuyên luận "Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật" (NXB Văn hóa Sài Gòn, 2008), nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc đã xác quyết: "Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, điều đó đã hẳn. Nhưng, trên và trước hết, người nhạc sĩ đó lại chính là một thi sĩ tự trong bản chất và trong cách thế sai sử ngôn ngữ của mình".
Diễn đạt theo cách khác, nhận định trên đã chạm tới một điều mà hầu hết những người đã từng (hoặc sẽ) viết về người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh đều chia sẻ: đặt giai điệu sang một bên, thì phần ca từ trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn chính là những thi phẩm đích thực. Cái thế giới thi ca mang đậm tính siêu hình của ông mở ra trước mắt chúng ta một hồn người, và qua đó, cả một thời đại đầy biến động.

Bước vào thế giới thi ca ấy, ta sẽ có dịp nhìn trở lại thực tại bằng chính cái nhìn mà thi nhân đã hướng về thực tại. Và thêm nữa, ta sẽ có thể nắm được thực tại bằng chính những âm vọng mà thi nhân đã nghe ra từ thực tại, theo một cách thật đặc biệt của riêng ông.

Giai đoạn sáng tác sung sức nhất và nhiều thành tựu nhất của Trịnh Công Sơn, không hồ nghi gì nữa, là những năm tháng chiến tranh. Sống trong lòng cuộc chiến, dẫu có căm ghét và chối bỏ nó đến đâu, ông vẫn phải chịu đựng sự hiện hữu của nó. Những tập "Ca khúc da vàng", "Phụ khúc da vàng", "Kinh Việt Nam", "Ta phải thấy mặt trời" chính là những trải nghiệm đau thương mà chiến tranh đã in hằn trên cuộc đời và trong tâm hồn ông.
Tiếng súng nổ, tiếng đại bác gầm, tiếng mẹ khóc con tử nạn, tiếng người hấp hối... đó là những âm thanh thảm khốc mà không một người Việt Nam nào sống ở thời ấy không nghe ra. Chúng cũng ngập đầy trong các ca khúc về đề tài này của Trịnh Công Sơn. Nhưng, đôi khi chúng vang lên thật lạ lùng: "Đại bác đêm đêm dội về thành phố/ Người phu quét đường/ Dừng chổi đứng nghe/ Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng/ Đại bác như kinh không mang lời nguyện/ Trẻ thơ quên sống/ Từng đêm nghe ngóng... Đại bác đêm đêm ru da thịt vàng/ Đại bác nghe quen như câu dạo buồn/ Trẻ con chưa lớn để thấy quê hương" (Đại bác ru đêm).
Tiếng đại bác trong thính trường của Trịnh Công Sơn - ít ra là ở ca khúc này - không hề mang vẻ hăm dọa khủng bố. Trái lại, nó có giai điệu, nó du dương, nó gần gụi và quen thuộc, nó gắn liền với đời sống và tạo thành nhịp sống của con người! Nhạc sĩ - thi sĩ họ Trịnh định làm lạ hóa cảm nhận của công chúng bằng cách nói ngược chăng? Không phải.
Bằng "cái nghe" riêng có của mình, ông đã bóc lộ một sự thật tàn nhẫn: chiến tranh làm mòn mỏi, làm đờ đẫn, làm mụ mị, làm tê liệt con người; con người bị đẩy vượt lên trên nỗi sợ, con người đánh mất cảm giác sợ hãi trước tiếng gầm của đại bác, con người chỉ còn là những tấm bia thịt vô tri mà đạn pháo có thể “viếng thăm” bất cứ lúc nào!
Chiến tranh, chết chóc, thịt nát xương tan đã để lại vết tích trong ca từ của Trịnh Công Sơn với những hình ảnh đau đớn: "Một chiếc xe tang/ trái mìn nổ chậm/ người chết hai lần/ thịt da nát tan" (Ngụ ngôn mùa đông), "một buổi sáng mùa xuân/ một đứa bé ra đồng/ đạp trái mìn nổ chậm/ xác không còn đôi chân", "người con gái chợt ôm tim mình/ trên da thơm vết máu loang dần" (Người con gái Việt Nam da vàng) v.v...
Sự sống trở nên quá đỗi mong manh trong guồng máy chiến tranh. Lằn ranh giữa sinh và tử của đời người trở nên vô nghĩa như một tiếng cười nhạo. Thực tại ấy, được thêm sức đẩy của ngọn triều tư tưởng về cái phi lý từ Âu - Mỹ tràn sang, đã đưa Trịnh Công Sơn tới rất gần quan niệm về sự hư ảo của nhân sinh và những nỗi đau khổ khôn cùng của phận người - như nó từng được thể hiện đậm đặc trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều ở thế kỷ XVIII. Ông luôn nghe thấy những âm thanh của một thứ định mệnh tàn nhẫn đè nặng lên thân phận con người: "Nghe xót xa hằn lên tuổi trời/ Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi/ Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người" (Gọi tên bốn mùa). Ông đặc biệt nhạy cảm với những tiếng gọi của trăm năm - hư vô - cái chết: "Đêm ta nằm bóng tối che ngang/ Đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm/ Gọi thì thầm, gọi thì thầm, gọi thì thầm/ Đêm nghe trời như hú như than/ Ta nghe đời như có như không/ Còn lại mình, đời bồng bềnh, đời buồn tênh" (Còn có bao ngày).
Khi hắt cái nhìn từ Kinh Thánh lên hạt bụi - người, ông nghe thấy: "Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi" (Cát bụi). Tiếng động không được gọi tên, song nó chẳng hề mơ hồ: đó là tiếng thời gian cầm canh đưa người từ bờ sống sang bờ chết, đó là tiếng chuông gọi hồn đều đều nhẫn nại! Bởi thế, không khó hiểu khi chợt bắt được một âm thanh rất đỗi bình thường của đời sống thực - tiếng ru - ảo giác về cái chết của chính mình đã ập đến với ông: "Về trong phố xưa tôi nằm/ Có lần nghe tiếng ru bên vườn/ Chợt như xác thân không còn/ Và cạnh tôi là đồng vắng" (Lời thiên thu gọi).
Cái bóng trăm năm luôn ám ảnh trong suy tưởng và trong cảm xúc của Trịnh Công Sơn. Nói theo giọng phân tâm học, ông có lẽ thuộc về kiểu nghệ sĩ mà bản năng chết (thanatos) mạnh hơn bản năng sống (eros). "Cái nhìn", và tất nhiên, cả "cái nghe" của ông, chịu lực hút chủ đạo không phải từ sự sinh trưởng- khoẻ khoắn - ấm áp - tươi vui, mà là từ những gì tàn lụi - héo úa - mòn mỏi - u sầu - lạnh lẽo.
Chắc chắn rằng không có mấy nhạc sĩ, thi sĩ Việt nghe được tiếng của thời gian theo cách mà ông đã nghe: "Từng lời tà dương là lời mộ địa" (Một cõi đi về) - đó là tiếng hấp hối của một ngày; "Người chia tay nhau cuối đường/ Ngày đi đêm tới/ Nghe tiếng hư không" (Nghe những tàn phai) - đó là âm thanh vô vị và "rỗng nghĩa" của sự chuyển tiếp thời gian.
Và, nếu mùa thu với sắc nắng vàng đã làm say đắm bao tâm hồn nghệ sĩ khác, họ chờ đón "những mùa thu tới", thì Trịnh Công Sơn lại chỉ thấy "những mùa thu đi", ông nghe ra ở sự đi của những mùa thu ấy cái chết của thời gian và sự chết dần của đời người: "Nhìn những mùa thu đi/ Em nghe sầu lên trong nắng/ Và lá rụng ngoài song/ Nghe tên mình vào quên lãng/ Nghe tháng ngày chết trong thu vàng" (Nhìn những mùa thu đi).
Một cách tất yếu, như là định mệnh, con người hướng theo tiếng gọi của cái bản năng chết ấy sẽ phải là một con người cô đơn, tuyệt đối cô đơn, bất chấp ý chí muốn nối kết với đời sống, với tha nhân của chính anh ta. Mỗi thanh âm của thế giới khi lọt vào thính trường của con người ấy đều trở thành một vọng âm nói về sự cô đơn, gợi đến sự cô đơn hoặc bắt anh ta phải nhận ra sự cô đơn. Đó là tiếng hát: "Chiều chủ nhật buồn/ Nằm trong căn gác đìu hiu/ Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều/ Trời mưa trời mưa không dứt/ Ô hay mình vẫn cô liêu" (Lời buồn thánh). Đó là tiếng gà trưa: "Về trên phố cao nguyên ngồi/ Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi/ Chợt như phố kia không người/ Còn lại tôi bước hoài" (Lời thiên thu gọi). Đó là tiếng lục lạc bò: "Đàn bò vào thành phố/ Reo buồn tiếng hạt chuông/ Một người vào thành phố/ Nghe hồn lạnh giá băng" (Du mục). Đó là tiếng mưa như "lời ru miệt mài/ ngàn năm ngàn năm" trong ca khúc Tuổi đá buồn, tiếng mưa khiến câu hỏi "còn ai còn ai?" bật ra não nuột như một tiếng thở dài của thi nhân trước nỗi cô đơn trên nhân thế.
Đến đây, tôi muốn nói thêm một cảm nhận chủ quan của mình: giữa trùng trùng âm thanh của thế giới, cùng với lời ru, dường như Trịnh Công Sơn yêu nhất tiếng mưa. Không phải chỉ vì mưa đã giăng mịt mùng trong các ca khúc của ông, mà còn vì tiếng mưa nhiều khi được ông dùng như một âm chuẩn để "đo" các thanh âm khác, tiếng lá chẳng hạn. Dùng tiếng mưa "đo" tiếng lá, ông có những ca từ tuyệt hay: "Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ" (Diễm xưa), "Lá hát như mưa suốt con đường đi" (Em còn nhớ hay em đã quên) v.v...
Cô đơn, ở một khía cạnh nào đó, là cây thập giá tinh thần mà người nghệ sĩ đích thực phải mang vác suốt cuộc đời mình. Cô đơn cũng chính là trạng thái lý tưởng để người nghệ sĩ có thể tập trung mài sắc các giác quan, nắm bắt chuẩn xác từng chuyển động tế vi nhất của thế giới. Trong cô đơn, Trịnh Công Sơn tỏ ra có một thính lực thật kỳ lạ, ông nghe thấy muôn trùng lên tiếng, những thanh âm kết dệt một bầu khí thật ma mị liêu trai: "Đêm nghe gió tự tình/ Đêm nghe đất trở mình vì mưa/ Đêm nghe gió thở dài/ Đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai... Đêm nghe gió than hoài/ Đêm nghe lá đưa lời hàm oan/ Đêm nghe thân xác mịt mùng/ Đêm nghe tiếng muôn trùng đẩy đưa" (Nghe tiếng muôn trùng).
Đi tới cùng của cô đơn, Trịnh Công Sơn rút gọn toàn bộ thế giới vào chính bản thân mình, ông nghe từ chính mình những âm vọng bi thiết của nhân sinh: "Đôi khi ta lắng nghe ta/ Nghe sóng âm u/ Dội vào đời buốt giá/ Hồn ta gió cát phù du bay về/ Đôi khi trên mái tình ta/ Nghe những giọt mưa/ Tình réo tình âm thầm/ Sầu réo sầu bên bờ vực sâu" (Tình xa). Ông nghe được cả những sóng cồn bão dông trong im lặng: "Tôi đã lắng nghe trái tim lạc loài/ Bao đêm đã qua/ Im lặng của người tôi đã lắng nghe/ Im lặng của tôi... Tôi đã lắng nghe im lặng thở dài/ Sau cơn bão qua/ Im lặng mặt người/ Nghe bao nỗi đau trên một bàn tay" (Tôi đang lắng nghe).
Và đây nữa, một âm thanh - âm thanh zero - mà Trịnh Công Sơn đã nghe ra từ nhịp đập của chính trái tim mình, trái tim của một người Việt Nam biết thổn thức biết xót xa trước những biến cố đau thương đang diễn ra hàng ngày trên đất đai xứ sở, trên cuộc đời người Việt: "Giọt nước mắt quê hương/ Ôi còn chảy miên man/ Ôi dòng nước mắt chảy hoài/ Dòng nước mắt đời đời/ Dòng nước mắt thương ai/ Ôi dòng nước mắt trong tim/ Chảy lai láng vào hồn/ Nửa đêm gọi đến mình" (Giọt nước mắt cho quê hương).
Tận hiến cuộc đời mình cho nghệ thuật, Trịnh Công Sơn và các ca khúc của ông đã tạo nên một bộ phận đầy giá trị, không thể tách rời trong dòng chảy ca khúc trữ tình Việt Nam thế kỷ XX. Những ca khúc mang giai điệu buồn. Buồn, đó cũng là chủ âm trong ca từ của ông. Bởi lẽ, ở một phương diện nào đó, dường như cái tạng sẵn có của Trịnh Công Sơn không hợp với những vui vẻ hời hợt. Thượng đế đã bắt (hay đã ban?) cho ông sứ mệnh của kẻ có thể lắng trong mình những âm thanh u uất, những tiếng nói tang thương từ cõi người và cõi đời rồi chưng cất chúng thành những ca từ buồn và đẹp.
Bằng những ca từ ấy, nhạc sĩ - thi sĩ tài hoa họ Trịnh đã cho ta thêm một cách thế để nghe sâu hơn tiếng vọng nhân sinh, để tự mở rộng biên độ của suy tưởng và cảm xúc, và từ đó, để gắn bó thân thiết hơn với cuộc đời mà mỗi người đang sống - như chính ông từng kêu gọi: "Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người/ Còn cuộc đời ta cứ vui" (Để gió cuốn đi). Một điều mà chúng ta có thể khẳng định chắc chắn: đó sẽ là di sản không bao giờ bị mất giá của Trịnh Công Sơn.

Hoài Nam _ ANTGGT số 7 (2008)

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2009

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2009

Dấu yêu ơi! Bức tranh Tình của người đàn bà Đẹp

Sau những chờ đợi vì bưu điện chuyển phát quá chậm, cuối cùng tôi cũng có trên tay tập thơ thứ hai của Vũ Thị Minh Nguyệt: Dấu yêu ơi. Tôi hồi hộp đọc tập thơ này, với mong chờ sự khác biệt so với tập thơ đầu tiên của chị, và tôi cũng không phải thất vọng với sự chờ đợi của mình.
Đề tài xuyên suốt tập thơ này là tình yêu với những tâm trạng trái ngược của nó. Điều này cũng dễ hiểu vì tác giả của chúng ta là một người phụ nữ đẹp, một vẻ đẹp dung dị, chân chất của người con gái quê hương Thái Bình. Vẻ đẹp đó đã được chị mang vào thi ca với những câu như thế này:
Em muốn hôn anh bằng đôi môi của một người tình
Bằng khắc khoải tháng năm, bằng đợi chờ hy vọng
Bằng nhịp thở, bằng tình yêu tràn trề nhựa sống
Hoang dại, nguyên sơ…
Trong Dấu yêu ơi, tôi thấy hình ảnh một người thôn nữ, chân trần lang thang qua những đồng thơm rạ lúa mỗi sớm ban mai, những dòng sông đôi bờ cát trắng, những cơn mưa nhè nhẹ lúc hoàng hôn. Ở đâu nàng cũng thấy sự yêu thương, ve vuốt, lời gọi mời của thiên nhiên, đặc biệt là Trăng:

Ta bay lên cùng vầng trăng dịu êm
Ngàn sao rủ nhau trải chiếu mềm
Mơn man gió kể ngàn câu chuyện
Dòng sữa bạc loang loang
man mát trên mình
Người thôn nữ này là một người khao khát cuộc sống, và nàng luôn tìm kiếm một tình yêu, thứ tình yêu giản dị, chân phương, đúng với tính cách của nàng. Với tình yêu, nàng có thể thao thức, có thể sống bản năng và dâng hiến tất cả:
Thả người đàn bà vào hoang dại của đêm
ngu ngơ tìm hương bông hoa lạ
Con mèo cái động tình, tiếng dế râm ran,
trăng rơi rơi kẽ lá
Ve vuốt ngọt ngào, lãng đãng ngọn gió xa
Đôi khi, nàng tưởng tượng nếu cuộc đời nàng không có tình yêu, cũng như không có một chút gì lãng mạn, bay bổng, và đặc biệt là không có Anh, thì sẽ đáng sợ đến mức nào. Có lẽ nàng chẳng muốn sống nữa:
Không có anh không có đam mê
Không có những vần thơ như lửa
Không thể dối mình em đang nhớ
Trốn đi xa,
không thoát nổi chính mình!

Là một người phụ nữ mẫn cảm và đầy đam mê, nàng cũng có như phút giây yếu lòng, chao đảo trước tấm chân tình của một người đàn ông. Nàng mong ước có một tổ ấm hạnh phúc, với những đứa con thơ bé bỏng đang chờ đón. Nàng đã phải “tự thú” với lòng mình:
- Anh là mùa thu xôn xao đến vậy
Anh là rượu nồng, em lỡ uống rồi say…
- Có một chút bình yên
quây quần bên bếp lửa
Có một bầy trẻ nhỏ
đang nô đùa chờ cơm
Thế nên, khi bị Tình yêu ruồng bỏ, khi biết người đàn ông mà mình yêu chân thành hờ hững, bỡn cợt, nàng cũng đau đớn lắm:
Ném tình yêu cho một kẻ khát khao
Nhớ anh đến tận cùng hơi thở
Tiếng cốc rơi như trái tim tan vỡ
Mảnh vụn nào găm trả lại cho anh?
Cái đau đớn, đắng cay khôn cùng như ly rượu đã rót đầy mà không thể uống:
Rượu đã rót rồi thì phải uống
Ngả nghiêng say cho buồn tả tơi buồn
Uống rượu vào và ngắm trăng suông
Đêm buông xuống đàn sao rơi rụng
Rồi cũng vì quá yêu người tình mà nàng phát điên lên khi thấy người ấy cười nói, vui vẻ bên người khác, để rồi ghen tuông, rất bản năng, rất đàn bà:
Đã biết là em ghen
Sao anh tài hoa thế
Si mê bao nhiêu kẻ
Đâu mình em ngẩn ngơ
Thế mà khi cơn bão lòng qua đi và đến lúc kịp trấn tĩnh lại, nàng mới chợt nhận ra:
Tạm biệt nỗi buồn, day dứt đớn đau
Có đổi thay sau bao lần vấp ngã?
Nếu được làm lại từ đầu… tất cả
Lại dỗi hờn, lại nhung nhớ, lại yêu…
Vì yêu, vì đam mê dâng hiến đến tận cùng hơi thở, sự sống cho tình yêu mà nàng có thể:
- Nổ tung hai quả tinh cầu
Để tan vĩnh viễn trong nhau một lần
- Cũng đành yêu chết thì thôi
Ngày tình nhân chợt viết lời… khát khao
Cái “tan vĩnh viễn trong nhau”, cái “yêu chết thì thôi” dễ gì những người khác đã làm được. Tại sao nàng lại dám yêu đến mức như vậy? Vì nàng luôn tin rằng:
Bởi em tin tình yêu không có tuổi
Như trăng diệu huyền, dát bạc giữa trời khuya!
và:
Bởi em biết anh là người tình sau chót
Em chẳng thể nào yêu ai khác ngọt ngào hơn!
Dấu yêu ơi là một bức tranh tình bằng thơ ca. Ở đây, tác giả không dùng bút màu hay khung tranh để vẽ những cảnh đẹp của thiên nhiên, của đất trời, con người mà dùng ngòi bút văn chương để vẽ lên hình hài của Tình yêu, của sự vật xung quanh với những gam màu sáng tối. Tác giả đã vẽ nó bằng một trái tim yêu thương và tâm hồn rộng mở, bao dung trước cái Đẹp muôn thuở của cuộc đời.
Nếu một mai kiệt sức qụy bên đường
Em vẫn mang theo gương mặt anh rạng rỡ
Mùa thu reo chấm nắng vàng sớt lửa
Pha bột màu thương nhớ vẽ trời yêu!
Tuy nhiên, Dấu yêu ơi vẫn còn có những khiếm khuyết. Đâu đó trong tập thơ, tôi đã nhận ra sự gắng gượng của tác giả. Chính sự gượng ép này mà tập thơ đôi chỗ bị xơ cứng về cảm xúc, khiến cho nhiều bài thơ bị ép vần, không đúng như tình cảm chân thật của nó. Một điều dễ nhận thấy nữa, đó là sự non tay ở khâu biên tập, vì còn một số bài thơ ở tập thơ trước còn đọng lại, và một lối trình bày rườm rà, dông dài khi có quá nhiều những cảm nhận (comment) hay những bài thơ dịch (mà không có nguyên gốc) xen lẫn vào, làm giảm đi hứng thú của độc giả khi đọc tập thơ. Nhưng dù sao, như tác giả đã bộc bạch: “Là người làm thơ, Minh Nguyệt đâu có ao ước nhiều. Chỉ mong có một chút gì để lại trong lòng bạn đọc. Hai tập thơ Vũ điệu của Trăng và Dấu yêu ơi như hai đứa con tinh thần được sinh ra từ chính những yêu thương của cuộc đời. Là một người học tự nhiên lại làm về tài chính, thơ của Minh Nguyệt giản dị như cánh đồng đêm trăng, như mùi rơm thơm của lúa vừa mới gặt…” thế nên, những gì đã làm được qua tập thơ đã toại nguyện được mong muốn của tác giả. Đối với cá nhân tôi, trong thời đại này, làm được thơ, viết được những điều mình trăn trở, tâm đắc, những trải lòng với cuộc sống đang hiện hữu đã là rất đáng quí, đáng khích lệ.
Vì vậy, Dấu yêu ơi xứng đáng được bạn bè gần xa đón nhận với tất cả những thương yêu, nâng niu và trân trọng.

Hà Nội, một ngày cuối đông năm 2008

TRỊNH QUỐC DŨNG

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2009

Nguyễn Bính, người đồng hành cô độc


Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn... Không hiểu sao, từ bé tôi đã rất thích nghe hai câu thơ này, nhưng không biết là của tác giả nào viết, chỉ nhấn nhá đọc theo, rồi thuộc cả bài hát được phổ nhạc từ bài thơ "Cô hàng xóm" này. Về sau mới được biết những câu thơ đó là của Nguyễn Bính, nhà thơ lớn của dân tộc. Ông có nhiều bài thơ, nhiều câu thơ ám ảnh tôi rất lâu, không dứt ra được. Có thể nói, ông là nhà thơ "chân quê" có một không hai trong lịch sử văn học nước ta. Tôi cam chắc rằng, còn có rất nhiều bài thơ, câu thơ của ông sẽ tồn tại rất lâu, rất lâu nữa trong tâm hồn mỗi người Việt chúng ta.

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh Nguyễn Bính, trân trọng giới thiệu với các bạn bài viết về ông của nhà thơ Ngô Minh (Huế).

------------------------------------------------------------

NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI ĐỒNG HÀNH CÔ ĐỘC

Đúng là ông luôn hiện lên trong chúng ta, bên chúng ta, cùng tỉ tê chia sẻ nỗi niềm trong một đêm mưa, một ánh lửa chài, trong dáng sông bóng núi. Có ông bên những người tha phương. Có ông bên những người Việt tuổi đang yêu từ những năm 1939 cho đến tận hôm nay. Thơ Nguyễn Bính hay như thế , nhưng một thời được cho là "lãng mạn tiêu cực", "tiểu tư sản" không được in và phổ biến. Mãi đến khi đất nước thống nhất , thơ Nguyễn Bính được xuất bản , nhiều bạn trẻ mới được đọc . Nhưng trong sổ tay anh Ngô Tấn Ninh , người anh trai yêu thơ của tôi ở làng biển Thượng Luật những năm 60 của thế kỷ trước vẫn chép đầy thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính...Anh tôi giấu cuốn sổ thơ ấy kỹ lắm và thường anh chỉ đọc, ngâm nga trong các cuộc rượu bạn bè .

Tôi lớn lên , sổ tay thơ cũng chép đầy thơ Nguyễn Bính - những "Lỡ bước sang ngang", "Cô lái đò", "Cô hái mơ", "Tương tư", "Chân quê", "Người hàng xóm"," Giời mưa ở Huế"," Hành phương Nam".v.v.. Không hiểu mình thành chàng trai trước hay thuộc thơ tình Nguyễn Bính trước ! Thật biết ơn ông anh trai si thơ!

Con gái Hà Nội, con gái tỉnh Nam xưa thuộc Kiều và thuộc cả tập thơ "Lỡ bước sang ngang". Nhà thơ của chúng ta đồng hành với ông thợ cắt tóc, với cô lái đò, các cô gái ngoại ô bơi thúng hái rau bên sông Tô Lịch cho đến các bà các cô trong phòng khuê nhung lụa. Nhà văn Chu Văn kể câu chuyện về Nguyễn Bính và cô lái đò bên bến sông Châu tên Thoa thật cảm động. Nguyễn Bính hàng ngày đi chợ vẫn nhờ đò cô đưa sang. Cô lái không lấy tiền. Và hình như thi sĩ cũng có tặng cô thơ, nên cô rất quí ông. Khi nghe tin Nguyễn Bính mất, cô Thoa đã nấc lên nghẹn ngào, gục mặt lên mái chèo." Ước chết thay cho thi sĩ !" Thế mới biết thơ thật diệu kỳ. Qua thơ, nhà thơ đến với mọi người như một người cật ruột, tin tưởng, gửi gắm.

Có lẽ vì có nhiều người đọc, nhiều người thuộc nên Nguyễn Bính là trường hợp nhà thơ hiện đại duy nhất thơ có nhiều dị bản. Khi Nguyễn còn sống, đã có nhiều bài thơ bị in nối dài thêm khổ, thêm câu. Trong Tuyển tập Nguyễn Bính (NXB Văn học, 1986), chỉ riêng 60 bài thơ tuyển từ các tập thơ trước 1945, đã có 24 trường hợp có các đoạn thơ, câu thơ, chữ thơ có các bản in khác nhau, ấy là thơ đã tự nối dài cuộc đời, tự hóa thân để đồng hành được với nhiều tâm trạng. Có một Nguyễn Bính si tình - lại có một Nguyễn Bính thi sĩ của cuộc kháng chiến. Bài hát "Tiểu đoàn 307" phổ thơ Nguyễn Bính từ Nam Bộ chống Pháp đã cùng hành quân với các binh đoàn trong cả nước cho tới những ngày chống Mỹ thắng lợi với giọng hát liêu trai của ca sĩ Quốc Hương.

Đồng hành thân thiết với nhiều thế hệ, nhưng Nguyễn Bính lại là một người cô đơn, cô độc. Ông cô độc cả về cảnh ngộ và tâm trạng thi sĩ , là một lữ khách giang hồ lên Bắc vào Nam. Chỉ trong vòng 15 năm, từ 1939 đến 1954, theo địa danh ghi dưới các bài thơ Nguyễn Bính đã "lăn lóc có dư mười mấy tỉnh" Bắc Giang, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, lục tỉnh miền Đông. Ông đi và sống được nhờ lưng vốn thơ với tâm tình độc giả mến mộ. Rồi ở trọ một mình, xê dịch một mình. Hồi vô Sài Gòn năm 1939, có lúc phải mà cả ngã giá bán từng câu thơ đăng báo để kiếm sống. Tiền thì ít nhưng "Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết/Ngày mai ra sao rồi hãy hay ... (Hành phương Nam). Tiền không có những vẫn trọng thơ hơn tiền, coi khinh bọn định giá văn chương. Theo lời kể của ông Hoàng Tấn (dẫn theo Hà Đình Nguyên- Báo Thanh Niên), ông chủ bút tờ Dân Báo đặt Nguyễn Bính một bài thơ để đăng trên số đặc biêt Tết Giáp Thân (1944). Ông chủ bắt Nguyễn Bính phải sửa đi sửa lại hai câu cuối đến ba lần. Khi báo in ra, Nguyễn Bính đến đòi nhuận bút. Ông chủ báo đưa 10 đồng, Nguyễn Bính chê ít, không nhận. Ông chủ báo nói:" Với các văn sĩ nổi tiếng khác, tôi trả cao lắm cũng chỉ 5 đồng..." Nguyễn Bính lập tức ném xấp tiền xuống đất rồi ra về. Ngày chiều hôm đó, tòa soạn phải cử người đến xin lỗi và đưa cho Nguyễn Bính 50 đồng ! Túng tiền, Nguyễn Bính còn bò ra năm ngày chép tay tập thơ Lỡ bước sang ngang với chữ ký của mình để "bán đấu giá"... Kiếp giang hồ, nhiều khi nhà thơ bơ vơ nơi sông khách :

Quê người đứng ngắm mây lưu lạc
Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng

Có lúc đơn chiếc đến tê dại trên sân ga:

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly

Nguyễn Bính yêu nhiều, yêu si mê, đã hiến cho tình yêu nhiều bài thơ đặc sắc, nhưng ông mãi mãi là người cô đơn trong tình yêu. Nhà văn Tô Hoài kể rằng, ngày trước, Nguyễn Bính đi đâu cũng kè kè cái hộp sắt tây. Loại hộp bánh bích quy, nhưng không đựng bánh mà đựng toàn thư tình, thơ tình. Nguyễn Bính thỉnh thoảng lại mở ra đọc, ngắm rồi lại vuốt lại, xếp lại, đêm ngủ thì gối cái hộp trên đầu. Thì ra những bức thư, là thư tình cũ của các cô nương luôn thề non hẹn biển, có lúc dọa cắt tóc đi tu hay uống thuốc phiện, dấm thanh cho chết (!), nhưng chẳng ai chịu "ăn đời ở kiếp" với nhà thơ nghèo khó ! Nguyễn Bính cắp cái hộp đựng tình yêu cũ ấy đi từ Bắc vào Nam như là một bảo vật ! Ông đi cô độc giữa cái mê hồn trận cay đắng ấy, để rồi chạm đến là ngân thành thơ. Một thứ thơ nồng nàn mà se xiết phận người ! Ông như người sinh ra cho những duyên kiếp lỡ làng, ông là sự dấn thân cho thơ, cho cái đạo thơ !
Trong hồi ký "Cát bụi chân ai", Tô Hoài kể rằng, thời kỳ Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa ở Hà Nội (1956) có một người con gái đã đến với ông. Họ có với nhau một mụn con đặt tên là Hiền. Rồi hai người xa nhau. Cô gái mang cậu con trai đến trả cho Nguyễn Bính! Ngày ngày nhà thơ ẵm vác cậu bé một bên vai, như mèo tha con. Một tối kia, Nguyễn Bính say rượu bế con thẫn thờ ra phố. Rồi không hiểu sao, trong vô thức nhà thơ lại trao con cho một người đàn ông xa lạ đang đi tới. Trở về, cơn say vật Nguyễn Bính thiếp đi. Quá nửa đêm quờ tay không thấy con, lật đật chạy đi kêu cứu bạn bè, mặt mày tái nhợt. Mọi người đổ đi tìm khắp thành phố, đi báo nhờ Công an tìm....Nhưng, đứa con ấy ba chục năm ròng vẫn không tìm thấy...Ôi, cuộc đời nhà thơ sao mà đau khổ, thương tâm thế !

Nguyễn Bính - Người đồng hành cô độc tuyệt vời của chúng ta sinh năm 1918, nếu còn sống, năm nay vào tuổi 90. Ông mất 8 giờ sáng 29 ( lấy 30) tết Ất Tỵ, tức ngày cuối cùng của năm Bính Ngọ (20-1-1966). Con người tài tử, từng giang hồ mưa gió bốn phương ấy lại thổ huyết chết trong vườn nhà một người bạn tên là Tân Thanh ở xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Buổi sáng đó, Nguyễn Bính ăn sáng xong ăn xong , vắt chiếc khăn mặt lên vai, thủng thỉnh ra ao rửa ráy, rồi trúng gió gục đầu thổ huyết bên bờ ao chỗ gốc mít. Lạ thật ! Cuối năm 2007, trong đợt về thăm thành phố Nam Định, tôi đã cùng người bạn thân nhạc sĩ Huy Tập về làng Thiện Vịnh, xã Cộng Hoà, Vụ Bản cách Nam định gần chục cây số viếng mộ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là nhà thơ số một Việt Nam về thơ làng quê đồng bằng sông Hồng.. Thắp nhang vái ông, tôi lại nhẩm những câu thơ ông viết về Huế trong đợt hành phương Nam của nhà thơ đầu những năm 40 của thế kỷ trước.

Giời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra suốt mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một loài mây
Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may...
(Giời mưa ở Huế)

Bởi thế về Nam Định đến thắp nhang lạy ông là ý nghĩ đầu tiên của tôi. Một sự trùng hợp rất ý vị là hai hôm trước ở Hà Nội, tại Hội chợ sách quốc tế Vân Hồ, lần đầu tiên tôi gặp và bắt tay nhà văn Nguyễn Bính Hồng Cầu, người con gái miền Nam của thi sĩ . Bây giờ tôi lại đứng bên mộ ông. Mộ nhà thơ được xây ngoài vườn nhà rất khang trang. Trong nhà là bàn thờ, những kỷ vật của Nguyễn Bính . Tôi và Huy Tập thắp nhang lạy Nguyễn Bính rồi ghi vào sổ lưu niệm. Theo Huy Tập kể thì trước đây là ngôi nhà cũ của gia đình, lúc Nguyễn Bính đi xa, người em trai ở. Để có được ngôi nhà lưu niệm nhà thơ tài hoa, gia đình đã bàn với ông em đi làm nhà ở chỗ khác, để anh em góp tiền sửa sang xây lại ngôi nhà cũ thành nhà lưu niệm nhà thơ Nguyễn Bính. Ở xứ ta mộ nằm giữa làng quê đầm ấm thân thuộc châu thổ Sông Hồng này cũng hạnh phúc lắm lắm. Tiếc là bây giờ những hình ảnh thôn quê trong thơ Nguyễn Bính như đậu mùng tơi, khăn mỏ quạ, quần nái đen.v.v..đã thành quá vãng. Các cô gái quê nhà "đi tỉnh", đi Hà Nội, đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc, Đài Loan... áo phông hở lưng, hở rốn, quần jin lửng, và không bao giờ về làng nữa...

Nguyễn Bính đã sống và viết nhiều thơ về Huế. Trong hai tập "Người con gái lầu hoa" và "Mười hai bến nước" của ông có nhiều bài thơ đặc sắc về Huế, đã trở thành tài sản tâm hồn của mọi người. Người Huế không ai không thuộc đôi đoạn, đôi câu trong các bài "Giời mưa ở Huế", "Vài nét Huế", "Người con gái lầu hoa", "Lửa đò" " Xom Ngự Viên"v.v... Nhiều hình ảnh, hình tượng thơ về Huế Nguyễn Bính dùng đã trở thành cổ điển , khó vượt qua. Như các hình ảnh "Giời mưa ở Huế" hay "Cầu cong như chiếc lược ngà...", "Con đò không chở những người chính chuyên" v.v... và đây là tiếng đàn kỹ nữ xưa :

Đàn ai chừng đứt dây tình
Vẳng lên một tiếng buồn tênh rồi chìm

Từ sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nhiều tập thơ và tuyển thơ Nguyễn Bính lại được in đi in lại, đến với độc giả yêu thơ cả nước. Mới hay cái trường tồn của một thi sĩ là những bài thơ "rút ruột đẻ ra", những bài thơ "chân quê" nói về cái "tôi trữ tình"của tác giả, "cái tôi" muôn thuở kiếm tìm, khao khát của con người ! Thơ Nguyễn Bính nói với tôi nhiều điều tâm đắc về sự được mất trong thơ. Trong một bức thư gửi bạn Trọng Miên năm 1939, Hàn Mặc Tử đã viết rằng: "Bởi muốn cho Loài thi sĩ làm tròn nhiệm vụ ở Thế gian này - nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời - Chúa Trời bắt chúng phải mua bằng giá máu, luôn có một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình. "Không rên xiết là thơ vô nghĩa lý". Thi sĩ rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình...".
Điều đó đúng với Hàn Mặc Tử và đúng cả với Nguyễn Bính !
Nguyễn Bính lại đồng hành với tuổi trẻ hôm nay và sẽ còn đồng hành với nhiều thế hệ lứa đôi mai sau. Thi sĩ ơi, thi sĩ là người cô độc, nhưng thơ mãi mãi là bạn đồng hành cùng trái tim con người.

Ngô Minh

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2008

Trái Cấm bao giờ cũng là Trái Ngon

Truyền thuyết Thiên Chúa giáo chép rằng: Adam và Eva là hai người được Thượng Đế tạo ra đầu tiên trên thế gian này. Do nghe lời của con rắn, Eva đã ăn Trái Cấm nơi vườn địa đàng (vườn Eđen), sau đó cũng đã đưa cho Adam ăn theo. Khi vừa nếm được hương vị đầu tiên của Trái Cấm thì Thượng Đế phát hiện ra, Người rất giận dữ và hét lên : “Hai con là người mà ta tin yêu nhất, vậy mà cũng làm ta thất vọng”. Cùng với tiếng hét đó, Thượng Đế vung tay đập mạnh con rắn kia, làm cho xương trên người nó vỡ vụn ra, nên tới nay, loài rắn phải đi uốn éo trên đường chứ không thể đi thẳng như trước kia. Thượng Đế cũng bắt Adam và Eva phải xuống hạ giới sống, chịu sinh-lão-bệnh-tử, vui buồn, khổ đau như bao người khác. Khi bị đày xuống hạ giới, Adam và Eva hẹn sẽ đi tìm một nửa Trái Cấm của mình, rồi cho chúng ghép lại với nhau. Nếu không thì chúng buồn lắm, vì không thể nào sống xa nhau, thiếu nhau được. Vì vậy, hai người luôn đi tìm hạnh phúc cho mình, rồi dùng hai nửa hạnh phúc đó để ghép lại thành đôi. Hai nửa của Trái Cấm cũng quyết định sẽ lăn đi tìm nhau, dù cho phải chịu bao nhiêu gian khổ, hiểm nguy đi chăng nữa.
Như vậy đó, con người vốn tự hào là những động vật thông minh bậc nhất, vậy mà cũng mắc phải lỗi lầm ngớ ngẩn, khù khờ, để suốt đời luôn phải đi tìm, phải sửa sai cho những lỗi lầm của mình.
Khi cầm trên tay tập thơ Trái Cấm của Nguyễn Phan Quế Mai, bất chợt tôi lại nhớ tới câu chuyện kia, rồi cứ ám ảnh bởi những bài thơ, bởi giọng thơ của một tâm hồn nhạy cảm, dung dị nhưng cũng đầy chân thành của chị. Ngay ở những câu thơ đầu tiên tôi đã bắt gặp điều này:
Trí khôn bảo em “Thôi đừng yêu anh”
Vậy mà con tim vẫn cứ dùng dằng

Thế đấy, trí khôn-lý trí của em đã nhắc em là không yêu anh nữa, vậy mà con tim-bản năng lại vẫn cứ dùng dằng, phân vân trước tấm chân tình của anh. Em cũng biết đến hiện thực đang hiện ra trước mắt, nhưng trái cấm tình yêu đã mời gọi trên cành, rồi chua ngọt, rồi nồng nàn, toàn những điều gây tò mò, gây đê mê, gây khoái cảm cả. Nói như Pascal, con tim có những lý lẽ của nó mà lý trí không hề biết đến, vậy thì, làm sao em cưỡng lại được, dù em hiểu rằng:

Con đường trần gian bàn chân rong ruổi
Cắn vào tình yêu
muôn đời
mắc tội….

Tình yêu muôn thuở là sự mỏng manh, sự hữu hạn. Có ai lý giải được tình yêu là gì, và cũng có ai dự kiến được tình yêu đến khi nào, đi khi nào. Do vậy, tâm trạng khi yêu là một tâm trạng hiến dâng, khao khát và có thêm một chút lo âu, phấp phỏng, có khi chỉ là những ý nghĩ vu vơ, mơ hồ chợt đến vì sợ tình yêu tan vỡ. Đối với phụ nữ, vốn yếu đuối, tâm trạng này lại càng hiện rõ:
- Những nỗi buồn sẽ nghiêng về một phía
Em biết rằng, đó là phía không anh
...
Em sẽ nghĩ gì ở phía không anh?
Sẽ làm gì với những bài thơ không xanh, hồng, tím, đỏ?
- Nụ hôn nào ở rất xa
Mà em sẽ ngỡ như là trên môi?
Sợ gì nước chảy mây trôi?
Sợ anh
níu
cả
biển
trời
phương
em
Từ nỗi sợ hãi rất bản năng đó, họ khao khát một sự bình yên, một bến bờ hạnh phúc, bến bờ mà chỉ có Anh mới mang lại cho Em:
- Trăng chọn dòng sông làm bến đợi
Em chọn anh làm bến đỗ đời mình
Em đã qua bao mùa trăng khát
Để cháy bừng một vầng sáng cho anh!
- Với tay hái ánh trăng mềm
Luồn vào gối ấm ru êm mộng người!
Hạnh phúc đối với họ cũng đâu ghê gớm, to tát gì, mà chỉ là những niềm vui thường nhật, giản đơn. Đó là những niềm vui, những ước ao như thế này:
- Mình cầm tay nhau nghe câu vọng cổ du dương
Lòng thấy mới với bao điều hẹn ước
Rơm rạ đơn sơ mỉm cười hạnh phúc
Về quê nha anh, về quê nha anh!
- À ơi... gió mát trăng thanh
Ru con mơ giấc mơ xanh tuổi đời
- Ước gì bẻ được câu thơ
Giấu nụ cười vào trong đó
Ước gì được là ngọn gió
Bay về xuân của ngày xưa

Trong tình yêu, ai cũng muốn cháy hết mình, muốn xả thân hết mình theo đúng nghĩa của tình yêu. Với phụ nữ, tình yêu của họ rạo rực, say đắm nhưng họ thường kín đáo hơn đàn ông. Họ có thể cho hết mình không tính toán, dù rằng họ phải chịu bao đau khổ, thiệt thòi hơn phái mày râu:
Người con gái cũng yêu như thế đó
Cũng cháy hết mình cho một tình yêu

rồi cũng rơi trong gió một buổi chiều
Để sáng mai, sẽ chẳng còn hoa đỏ
Đọc Trái Cấm, tôi có cảm giác vì tình yêu mà sự chờ đợi, sự hy sinh, sự ghen tuông của người phụ nữ trở nên trong sáng, đáng yêu và đáng trân trọng hơn. Họ có thể:

- Ở phía không anh...trái tim em vẫn thức
đập từng tích tắc
khắc khoải
đợi hoàng hôn....
- Vẫn biết rằng anh không thuộc về em
Sao ký ức vẫn đan xen vào ngày vào tháng?
Khắc khoải đợi từ khi bình minh rạng...
- Trái tim em vào mùa
Khát khô trong nắng hạn
Ký ức anh mát lành
Đem mưa về làm bạn
Có lẽ vì thế mà tình yêu của người phụ nữ thường thánh thiện, thường vĩ đại hơn người đàn ông?
Nhà văn nổi tiếng Victor Hugo đã từng nói: Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu. Tình yêu khiến ta phải chờ đợi, phải si mê, hiến dâng tất cả thì tình yêu cũng sẽ cho ta tất cả: sự chân thành, bao dung, độ lượng, và trên hết, đó là sự sẻ chia, cảm thông giữa con người với con người. Tình yêu ở đây không chỉ đơn thuần là tình yêu nam nữ, mà cũng là tình yêu thương quê hương, xứ sở, tình yêu thương giữa những người thân ruột thịt, những cảnh đời bất hạnh xung quanh ta.
Quế Mai là như vậy, thơ chị là như vậy, không cầu kỳ, không là những triết lý sáo rỗng, không là cách viết làm dáng, ngoa ngôn. Thơ chị tự nhiên, giản dị, gần gũi nên dễ đi vào lòng người. Chị đã có lý khi đặt tên tập thơ là Trái Cấm, và cũng không phải ngẫu nhiên khi chọn bức ảnh cùng tên của nghệ sỹ nhiếp ảnh Thái Phiên làm trang bìa, vì rằng Trái Cấm bao giờ cũng là Trái Ngon. Và tôi cũng để ý đến một điều này nữa, phần lớn những bài thơ về tình yêu trong tập thơ này được Quế Mai viết trong khoảng thời gian gần đây (2007, 2008). Phải chăng chị đang yêu?

Tương lai đang ở phía trước, chúc chị đạt được mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống. Chị hãy là ngọn lửa cháy hết mình vì những ước mơ và hoài bão của mình. Tôi tin là chị sẽ làm được, vì chị biết chắp cánh những ước mơ cao đẹp của mình với cõi đời này.

Hà Nội, một ngày thu tháng mười 2008

Người yêu thơ họ Trịnh

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2008

Thơ trên blog đang làm xao động người đọc


1. NET MÙA THU là tập thơ có ‎‎ý tưởng lạ: kết hợp bài thơ đăng trên mạng và các comment. Điều này có thể thu hút bạn đọc. Song ngoài điều đó, có phải điểm chính là những bài thơ lạ, mới và hay?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Trước hết tôi khẳng định đây là tập thơ NET đầu tiên xuất bản tại Việt Nam được chọn trên cơ sở "bầu chọn trực tiếp" của bạn đọc bằng comment (cảm nhận, góp ý) của người đọc văn học mạng (Internet) và quan điểm của Ban Tuyển Chọn (Nguyễn Trọng Tạo - Hà Linh - Phan Chí Thắng). Có bài thơ hiện hàng trăm cảm nhận của bạn đọc và cũng có bài thơ không nhiều comment. Tuy vậy, hầu hết những bài thơ được chọn trong NET MÙA THU đã gây được sự chú ý của "dư luận" bạn đọc văn học mạng. Một tập thơ phong phú về đề tài, đa dạng về phong cách và đặc biệt có nét táo bạo về cách tân cả nội dung và hình thức, thậm chí có bài mà báo giấy "sợ" không dám đăng.

2. Khi tham gia tuyển chọn, điều gì làm cho anh thấy hứng thú ở tập thơ này? Anh đánh giá Net Mùa Thu ở mức độ nào: một tập thơ kỷ niệm hay một tập thơ đáng đọc...?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Có lẽ hứng thú nhất là hình thức in bài thơ kèm những comment. Tôi nghĩ tới bạn đọc rộng rãi khi đọc xong bài thơ rồi đọc "ý kiến nóng" của người khác về bài thơ đó, họ sẽ có sự so sánh với cảm nhận của chính họ, và điều thú vị sẽ xảy ra là người đọc sẽ "động não" và có "ý thức phê bình" hơn khi đọc thơ. Điều đó làm cho thơ gần gũi và đi sâu vào bạn đọc hơn. Vì vậy, nó vượt qua quan niệm in thơ hiếu hỷ, và tất nhiên tôi tin nó có sức hấp dẫn bạn đọc.


3. "Nhà nhà làm thơ, người người làm thơ"- gần như ai cũng biết. Thế nhưng chúng ta thấy Nhà thơ thực sự có câu thơ in vào trí nhớ bạn đọc lại không phải nhiều. Và các tập thơ hàng ngày, hàng tháng xuất hiện nhưng số lượng chỉ 500-1000 cuốn. Lâu rồi chưa có 1 tập thơ, bài thơ ấn tượng truyền tai nhau, chưa có một nhà thơ trẻ nào được tôn vinh như thời các anh. Cái này theo anh do bối cảnh văn chương hay do chính tác giả, tác phẩm?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Tôi từng tin "thơ ta vẫn hay", và hiện nay tôi vẫn tin như thế. Nhưng kinh tế thị trường xáo động đã chi phối xã hội thưởng thức thơ. Nếu nhà thơ trước những năm 1990 được sủng ái hâm mộ vào bậc nhất trong công chúng yêu thơ, thì bây giờ được thay thế bằng minh tinh màn bạc, bóng đá hay hoa hậu. Tôi đọc thơ trên mạng, đặc biệt trên các blog thỉnh thoảng ngạc nhiên về những giọng thơ lạ, những bài thơ lạ và hay mà không thấy xuất hiện trên báo giấy. Có những "tài thơ" như thế đấy, họ chỉ đi tìm tri âm trên mạng.

4. Tình trạng nhà thơ trẻ gần như được nhắc đến hay bị dư luận tranh cãi bởi các xu hướng mới, nhưng cũng mới chỉ được nhớ đến tên hoặc vài câu thơ. Một phần vì chỉ có một số người quan tâm, một phần chỉ được nhắc trên báo, thiếu những bài phê bình thực sự thấu đáo. Phê bình nhờ nhờ, thiếu trình độ hay thiếu bản lĩnh. Phải chăng có một l‎ý giải khác: chúng ta thiếu nhà phê bình như Hoài Thanh, Hoài Chân để có thể mang tới những chọn lựa và cái nhìn sắc sảo hơn với thơ?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Chỉ những nhà phê bình thực sự đam mê thơ mới có thể phê bình thơ hay. Lòng đam mê cho họ sự gần gũi, hiểu biết về thơ, và đặc biệt là chân thành với thơ. Nhiều comment trên các blog như những bài bình thơ thực sự, những bài "bình nóng" và trực tiếp thường bộc lộ rất rõ chính kiến, cảm xúc của "nhà-phê-bình-bạn-đọc". Nếu Hoài Thanh còn sống để đọc thơ trên blog, chắc ông cũng sẽ là "nhà phê bình nóng" mà nhà thơ nào cũng sẽ vinh dự khi được ông gõ comment vào bài thơ của họ. Về phê bình thơ hiện nay, tôi lo lắng nhưng chưa hề thất vọng.

5. Với anh, những bài thơ của anh được bạn đọc nhớ đến và thuộc có xuất hiện chậm so với thời gian sáng tác hay là ngay lập tức được đón nhận?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Khi bài thơ xuất hiện trên blog, sự phản hồi của bạn đọc rất nhanh: khen, chê, hoặc thờ ơ. Những bài nhiều comment cảm nhận, thậm chí thành bài bình luận ngắn, thường để lại ấn tượng cho người đọc. Thời hoàng kim của công chúng thơ trước đây, những bài thơ hay của tôi được người đọc nhớ rất nhanh. Chỉ loại thơ cách tân quá bạo liệt mới phải chờ thời gian "xếp hạng".

6. Thơ văn rõ ràng đang đi ngược: rất nhiều tác phẩm đăng trên mạng rồi mới quay trở lại in sách. Anh có cho rằng đây là xu hướng của văn học hiện đại? (Trung Quốc đã khá thành công với mô hình này)

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Nếu nhà văn công bố tác phẩm và giữ bản quyền trên mạng trước khi in báo, in sách thì không thể gọi là ngược. Nó như là giai đoạn thăm dò và điều chỉnh khiếm khuyết của tác phẩm cho đến hoàn hảo. Nhiều tác giả đã sửa lại tác phẩm qua ý kiến sâu sắc, thong minh, bất ngờ của bạn đọc mạng. Ngay trong một thời gian nằm trên mạng, có tác phẩm được sửa chữa nhiều lần khác nhau. Vấn đề công chúng mạng khuyến khích nhà văn rất nhiều trong sáng tạo. Cách biên tập và xuất bản chưa chuẩn của ta cũng góp phần thúc đẩy văn học mạng phát triển. Xu hướng hiện đại là xu hướng tự do cho văn học phát triển.

7. Tiểu thuyết, truyện ngắn để tạo nên những cuốn best seller trong bối cảnh hiện nay đang là điều vô cùng khó khăn. Nhưng khi thơ văn đẩy lên mạng ta cũng có thể thấy có một lượng độc giả khá và các bài thơ đã có sự phản hồi. Theo anh, thơ liệu có sự bứt phá nào đấy, hay chỉ là những tác phẩm in đẹp, kỷ niệm, còn giờ là thời của internet-các bài thơ cũng chỉ được đón nhận từ mạng?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Thời nay cuốn sách bestseller thường cộng hưởng với quảng cáo, tiếp thị. Tất nhiên nó cũng phải có "nội lực" nhất định. Có chiêu quảng cáo độc hơn là "thuê thu hồi sách rồi phạt vi phạm hành chính dăm triệu thôi". Ha ha, thế đấy, "của cấm là của quí", bạn đọc tha hồ tìm sách cấm qua chợ đen. Lợi nhuận trôi vào nhà sách, còn tác giả thì ngoài tiền bạc còn được công chúng phong danh hiệu "hiệp sĩ bị trù dập". Vấn đề thực chất của văn chương phát triển lại nằm ở chỗ khác, đó là văn tài và văn hay.

8. Thời gian vừa qua cũng có một số nhà thơ, khuynh hướng thơ được coi là lạ lẫm, bạo dạn và gây sock xuất hiện. Tuy họ chưa tạo được một khuynh hướng mới, một tên tuổi thơ đủ sức hấp dẫn và lôi cuốn bạn đọc nhưng họ đã dám thể nghiệm, dám sống với suy nghĩ của mình. Ông nghĩ thế nào về các cây viết trẻ và sự đón nhận của công chúng với thơ mới - thơ hậu hiện đại?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Không ai muốn làm thơ như cũ, phải làm mới. Nhưng rất nhiều, rất nhiều người kể cả người đã nổi tiếng vẫn lực bất tòng tâm. Ngay cả trẻ cũng vậy, nhưng trẻ bao giờ cũng có lợi thế của họ, lợi thế nhất là họ trẻ nên nhìn thế giới mới mẻ hơn. Thơ hiện đại hay thơ hậu hiện đại chủ yếu là thay đổi hình thức, cách nói. Nó cũng chẳng hơn lục bát hay xon-nê Đường luật... về hình thức. Nhưng nếu nó làm cho công chúng thích thì kho tàng thơ sẽ phong phú và mới mẻ hơn. Tôi tin rồi sự pgas cách và phá phách của lớp trẻ sẽ đến lúc trưởng thành hơn.

9. Con đường của các nhà thơ trẻ bây giờ gần giống nhau: ban đầu say mê, miệt mài với thơ, với rất nhiều tuyên ngôn và sự dấn thân. Song dần dần bị giảm nhiệt và làm thơ như một sự trang trí, còn hầu hết chuyển nghề báo, văn, hội họa, biên kịch... Con đường thơ văn vì thế mà cũng rời rạc? Đây có phải là cách làm không chuyên nghiệp và ngõ cụt của các nhà thơ?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Đó là đồ thị phổ biến của các nhà thơ trẻ, một đồ thị lên nhanh xuống nhanh rồi đi ngang. Có lẽ nó nhuốm phải căn bệnh "đi tắt đón đầu" "ăn xổi ở thì" mà cha ông đã chỉ ra. Đó không phải phẩm cách của nhà thơ. Cuộc sống khó khăn cũng xô đẩy họ và ta có thể ngậm ngùi thông cảm và chia tay họ. Nhưng với những tài năng văn chương thật sự thì ta vẫn có quyền hy vọng họ sẽ vẽ một đồ thị khác lạc quan hơn.

10. Nếu được chọn 5 gương mặt thơ trẻ, anh sẽ chọn ai? Liệu đủ đủ để chọn 5 hay đông hơn, có thể chọn được 10?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO: Thú thực tôi không thích làm giám khảo để lựa chọn nhà thơ. Đối với người trẻ, tôi thích cá tính và dấu hiệu bí ẩn của tài năng. Những tên tuổi thơ trẻ giao thời giữa hai thế kỷ tôi đã nói nhiều đến Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly... và họ đã dần tự khẳng định tên tuổi của mình. Giờ thấy xuất hiện Trang Thanh, Dương Anh Xuân, Trương Quế Chi, Nguyên Anh hay Nguyễn Thế Hoàng Linh... Hy vọng thì nhiều, nhưng quan trọng phải là sự tự bứt phá của chính họ. Nếu họ tung thơ lên blog riêng chắc sẽ hiểu rõ mình hơn qua bạn đọc, bởi thơ trên blog đang làm xao động và thu hút sự chú ý của công chúng thơ hiện nay.

9.2008

Hằng Nga thực hiện

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2008

Không đề

Niềm buồn cứ đến bất ngờ
Để ta chín đợi mười chờ nỗi vui
Về đâu trăm lối ngậm ngùi
Mưa xưa ướt áo sụt sùi lá rơi...

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2008

Có thể bạn chưa biết Nguyễn Trọng Tạo...


Nguyễn Trọng Tạo là một thương hiệu hấp dẫn suốt mấy chục năm nay. Đó là thương hiệu thơ với hàng chục tập thơ ấn tượng, có rất nhiều câu thơ tài hoa ai cũng nhớ: Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ Câu trả lời thật không dễ dàng chi... Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ/ Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió... Sông Hương hoá rượu ta đến uống / Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say... Bạn bè ở Huế thương nhau thiệt/ Một đứa vợ la chục đứa kinh...Tin thì tin không tin thì thôi... Thương hiệu nhạc với những bài hát nổi tiếng cả nước: Làng quan họ quê tôi. Khúc hát sông quê, Đôi mắt đò ngang... mà không ít nhạc sĩ thèm thuồng. Thương hiệu hoạ với hàng trăm cái bìa sách lạ lùng, hiện đại, trong đó có mấy cái được giải bìa sách đẹp. Đặc biệt Nguyễn Trọng Tạo là người đã vẽ lá CỜ THƠ, được công nhận và trở thành biểu trưng được kéo lên trong Ngày thơ Việt Nam từ nhiều năm nay. Thương hiệu "tửu" với những cuộc uống thâm đêm thâm ngày. Nhạc sĩ Ngọc Đại từng chứng kiến Tạo uống có cuộc 25 tiếng đồng hồ. Uống đến mức Gặp nhau là nhớ mùi rượu Hiếu/ Mưa nắng sá gì dốc Phú Cam... Đã có nhiều học giả, nhà văn nổi tiếng viết về Nguyễn Trọng Tạo như Hoàng Cầm, Vũ Cao, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng Phủ Ngọc Tường,... Tôi chỉ xin lan man đôi chuyện đời thường đằng sau cái thương hiệu Nguyễn Trọng Tạo để bạn đọc hiểu thêm về con người tài hoa mà gần gũi này. Những câu chuyện đã kết thành hạt trong lòng tôi mà có thể bạn chưa biết...
-----------------------------------------------------------------------

Năm 1978, báo Nhân Dân tổ chức chọn thơ hay viết sau ngày giải phóng miền Nam. Kết quả có 16 bài thơ của 16 tác giả được tặng thưởng trong đó có bài thơ "Làng có một ngày như thế" của Nguyễn Trọng Tạo và bài " Nón bài thơ và hương đất cao nguyên" của tôi. Tôi quen biết Nguyễn Trọng tạo từ đó. Mùa đông năm 1985, Nguyễn Trọng Tạo vô Huế chơi. Anh ở trọ tại nhà tôi ở lưng chừng dốc Bến Ngự. Vợ tôi phát hiện ra cái áo ra-két anh lâu ngày không dặt, cứ bốc mùi "thơm" khắp nhà. Hình như suốt mùa rét chưa được giặt thì phải. Thế là vợ tôi bắt Tạo thay quần áo để ngâm giặt. Một bộ quần áo mà Minh Tâm giặt hết cả một bánh xà phòng loại 72% của Liên Xô rất cứng thuở đó, mà vắt vẫn ra nước đục. Khiếp thật. Những ngày đó tôi và Tạo đạp xe chở nhau đi uống rượu đàm đạo thi ca suốt ngày với bạn bè.

Những năm Tạo ở Huế, buổi sáng bao giờ cũng chén một tô cơm nguội đầy ụ có con cá nục kho gác ngang và một tô canh rau. Trông như ăn để đi cày. Tôi hỏi sao không ăn phở, bún, cháo, nghĩa là những thứ "nóng nóng nước nước" theo cách gọi của Phùng Quán. Tạo bảo ăn cơm cho chắc bụng để nhỡ phải uống cả ngày, đề phòng say. Tôi ngồi viết ở nhà, khoảng mười giờ sáng nghe tiếng xe máy Simsơn vè vè lên dốc, biết ngay Tạo chưa uống ở đâu. Thế là lục tủ lấy chai quốc lủi, rồi điện gọi Hoàng Phủ Ngọc Tường hay Mai Văn Hoan... Thế là cuộc nhậu kéo đến chiều, vợ tôi lại phải mua thêm rượu, tiếp thêm đồ mồi. Uống với Tạo tốn thời gian lắm. Ai muốn chuồn trước cũng rất khó. Nhưng Tạo ra Hà Nội rồi thì lại nhớ, lại thèm những cuộc say sang mùa...

Uống rượu thơ phú ngất ngưỡng cả ngày, nhưng Tạo là người chăm lo gia đình lắm. Vốn là người lính nên Nguyễn Trọng Tạo nấu ăn rất sành điệu (Chỉ có pha tiết canh lợn là phải điện thoại nhờ Ngô Minh). Tạo băm chặt, xào nấu, pha nước chấm, dọn mâm... như một người nội trợ thực thụ. Loáng một cái đã có mâm đồ mồi thịnh soạn bưng lên cho bạn bè nhậu. Ở một mình trên tầng 6 khu chung cư ở Hà Nội, có khách, Tạo cũng xách đồ từ chợ về nấu nướng. Vì chợ sát nhà nên các bà bán thực phẩm dưới phố ai cũng quen biết Tạo. Tôi ra Hà Nội, đến khu chung cư chưa cần hỏi thăm, mọi người đã chỉ dẫn lối lên nhà Nguyễn Trọng Tạo rất tận tình. Hồi ở Huế có phong trào nuôi cá trê phi, Tạo xây một cái bể lớn, thả ngàn con cá không để làm "kinh tế" mà để nhậu. Nhưng mới hai tháng rưỡi, cá chưa kịp lớn Tạo đã câu để làm mồi đãi bạn. Câu nhiều quá, cá nó sợ không dám lớn, không dám cắn câu nữa. Bạn nhậu đã đến mà cá chưa câu được con nào. Lão tức khí trổ lù cho nước thoát để bắt cá. Mới mấy tháng mà hết sạch bể trê phi!...

Tạo nuôi con gái lớn học đại học ở Hà Nội. Con học xong lo việc làm cho con, rồi lo cưới chồng cho nó, góp tiền cho vợ chồng con mua nhà chung cư. Hai đứa nhỏ ở Huế đứa nào cũng có máy vi tính từ bé. Lo cho con như Tạo không phải ông bố nào cũng làm được. Đối với bạn bè, Tạo cũng thật chí tình. Ai nhờ vẽ bìa sách, đọc bản thảo, viết giới thiệu sách, hay viết lời tựa cho các tập thơ, Tạo cũng giúp rất nhiệt tình. Tạo thức cả đêm để viết lời tựa cho người này người khác. Nhất là đối với các nhà thơ trẻ hay những người mới viết. Nhà thơ Văn Cầm Hải khi còn tuổi hai mươi, in tập thơ đầu "Người đi chăn sóng biển", Nguyễn Trọng tạo đã chăm chú đọc, viết lời tựa , vẽ bìa rồi liên hệ với Nhà xuất bản Trẻ cho tập thơ ra mắt công chúng. Riêng tôi, trong số 18 đầu sách đã xuất bản thì Nguyễn Trọng Tạo vẽ bìa, viết lời bạt hết 6 cuốn. Có mấy cuốn thơ, tiểu luận, tôi từ Huế email bản thảo ra nhờ giúp, thế là Nguyễn Trọng Tạo lui cui đi xin giấy phép, vẽ bìa, đưa đến nhà in, chấm mo-rát, rồi lại lo gửi sách vô Huế cho bạn. Có khi phải thêm tiền vào cho đủ để lấy sách ra. Không chỉ riêng tôi, mà Tạo giúp rất nhiều người như vậy. Hồi ở Huế, Nguyễn Trọng Tạo tuyển "Hai thập kỷ thơ Huế", tôi còn nhớ một hình ảnh rất cảm động. Vì tập tuyển có in ảnh từng tác giả, mà nhà thơ Thanh Hải đã quá cố không có ảnh lưu ở Hội, Nguyễn Trọng Tạo phải tìm đến nhà chị Thanh Tâm đơm hoa quả, thắp nhang vái anh Thanh Hải mới đưa được cái ảnh thờ xuống để chụp lại. Đó là nét văn hoá tâm linh rất chỉnh chu.

Nguyễn Trọng Tạo là người thích quảng giao. Bạn bè anh đông đảo từ trong nước đến hải ngoại. Bạn bè và các tổ chức mời anh đi ngao du nhiều chuyến ở Ba Lan, Châu Âu, Trung Quốc, Canada... để bàn luận, trao đổi văn chương, học thuật. Trong một chuyến thăm Bỉ, Nguyễn Trọng Tạo có bài thơ Cu đái khẩu khí, rất đời: nó đứng trên cao cười tít / đái qua đầu bạn đầu tôi / hoa hậu ngước nhìn vẫy vẫy.../ vòi nước cứ tuôn không ngừng / những bàn tay tranh nhau hứng / nước trời nước thánh rưng rưng". Bảng danh sách điện thoại của anh có cả ngàn tên người. Người mến mộ anh khắp cả nước không đếm xuể. Một đêm, đi ngang Tam Điệp, anh ghé vào thị xã, ông chủ tịch đi vắng. Nghe cán bộ điện báo tin có nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ghé thăm, ông chủ tịch thị xã đang ở cách xa 30 cây số cũng phóng xe về chỉ để ôm hôn anh Tạo và xin được hát bài hát "Khúc hát sông quê" trước mặt tác giả. Tạo chơi thân từ ông Bộ trưởng, Chủ tịch tỉnh, huyện cho đến chủ một cây xăng, một người đạp xích lô. Tạo không câu nệ ông này sang, ông này không sang. Sẵn sàng gõ đũa hát Làng quan họ quê tôi, Khúc hát sông quê theo yêu cầu của bạn. Tạo có giọng hát vang và ấm. Hình như rượu càng sương thì Tạo hát càng bốc, càng hay. Mỗi lần về Huế, Tạo thường tổ chức tại nhà những cuộc "nhậu mặt trận". Gọi là "nhậu mặt trận" là vì đủ thành phần tham dự: ông lãnh đạo tỉnh, ông giám đốc công an Huế, bạn bè nhà thơ, nhà báo, ông chủ một doanh nghiệp, nhà thơ đạp xích lô... Đám văn chương Huế thân với Nguyễn Trọng Tạo có tôi, Nguyễn Khắc Thạch, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Văn Dũng (Dũng karate), Hồ Thế Hà, Mai văn Hoan, Văn Cầm Hải, Nguyễn Thanh Tú, nậu sách Trương Đức Thành, rồi Đại tá công an Đặng Quang, kiến trúc sư Thái Doãn Long, giám đốc điều tra rừng Mai Xuân Bách...Đó là những người gọi là "bạn ruột", hợp với Tạo. Khi say lên, thấy có gì không phải là Tạo mắng mỏ không nể ai. Ném vỡ tan cả con "dế" xịn của ông bạn vừa mới nhậm chức đầu tỉnh... Mỗi lần như thế tôi thường say theo Tạo và nằm đến hôm sau chưa tỉnh. Thế mà Tạo lại đi nhậu tiếp cuộc khác, rồi về nhà ngồi làm thơ, post bài lên blog tới khuya lơ mới ngủ. Có lần 2 giờ sáng, Tạo điện cho tôi thức dậy để nghe Tạo đọc 9 bài thơ vừa mới làm xong. Hồi đó tôi chưa có di động nên phải ra bàn cầm máy nghe. Tôi đứng trong đêm tối nghe thơ và chịu trận muỗi đốt tơi bời.

Có lần Nguyễn Trọng Tạo kể với tôi: "Mình họ Ngô ông ạ. Cụ Tổ mình tên là Ngô Đình Du, nhưng bà cô ruột lấy chồng họ Nguyễn không có con nên đưa cháu về làm con nuôi họ Nguyễn, và đổi họ thành Nguyễn Trọng Du". Tôi thích quá liền đùa: "Họ Ngô mới có người tài giỏi thế chứ!". Nguyễn Trọng Tạo là người có tài thiên bẩm. Anh kể với tôi nhiều chuyện oái oăm của cuộc đời anh. Tạo đa tài giỏi giang nhiều lĩnh vực thế, nhưng lại không có bất cứ một tấm bằng cấp nào trong chuyện học hành. Học cấp 3 Tạo là học sinh xuất sắc, giỏi cả văn cả toán từng thi học sinh giỏi toàn Quốc, nhưng khi đi thi tốt nghiệp do làm bài hộ cho bạn, thế là bị đánh hỏng. Sau đó thì đi bộ đội dài dài. Nguyễn Trọng Tạo được quân đội cử đi học Trường Viết văn Nguyễn Du khoá I, học đến năm cuối thì công bố bài thơ "Tản mạn thời tôi sống" nên phải rời trường, rời khỏi Văn nghệ Quân đội về lại Quân Khu Bốn(?). Điều kỳ lạ là con người đa tài làm ra rất nhiều bài hát hay ấy lại không học ở Nhạc viện ngày nào mà chỉ học vài lớp bồi dưỡng ngắn hạn trong quân đội. Có người bảo Nguyễn Trọng Tạo là nhạc sĩ duy nhất ở nước ta không biết chơi đàn (trừ đàn bà). Sống với Tạo mười năm ở Huế, tôi chỉ thấy anh mỗi khi sáng tác thì cầm ghi-ta để bấm "gam" và gõ nhịp, chứ chưa bao giờ thấy anh ôm đàn vừa hát vừa đệm như những tay sành điệu khác. Nhưng nhiều bạn học thời phổ thông của Tạo kể tôi nghe là anh đã từng tự làm một cây đàn violon rất đẹp và chơi đàn violon cho toàn trường nghe vào ngày chào cờ đầu tuần. Hẳn nhiên là biết chơi đàn và biết kỹ thuật để sáng tác nhạc là điều hoàn toàn khác nhau, nhưng phải nhận rằng nhạc sĩ mà không thèm chơi đàn cũng là chuyện lạ lung "xưa nay hiếm".

Có chuyện lạ nữa là một người nổi tiếng tài hoa cầm kỳ thi họa như Nguyễn Trọng Tạo, lại không có nhà ở. Trong khi đó có ông quan chiếm dụng mấy nhà của nhà nước, thì Tạo 10 năm ở Huế, đóng góp nhiều cho Huế nhưng anh không được cấp nhà như những người khác. Anh cứ ước ao có một căn hộ (căn hộ chung cư cũng được) để gọi là "nhà mình". Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lúc đó là Phó Bí thư thường trực tỉnh uỷ đã phê vào đơn xin nhà của anh "đề nghị giải quyết" rồi, nhưng cơ quan này đổ cho cơ quan khác, chạy năm lần bảy lượt không được, đành phải "bỏ của chạy lấy người" ra "nương thân" ở Hà Nội. Nhờ bạn bè mỗi người một tay vun vào, Tạo mua được căn hộ 62 mét vuông ở tầng 6 khu chung cư. Ở trên cao ấy, lại không có cầu thang máy, mỗi lần say rượu lên xuống như đi trong mây. Tạo ra Hà Nội, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị tai biến nằm một chỗ, thế là cái "Chi hội nhà văn Bến Ngự" của chúng tôi tan rã. Ngày Tạo còn ở Huế, ông Tường còn lành, chiều nào ba chúng tôi cùng ngồi với nhau ở một quán cóc nào đấy để nghe "Tường nói", và nghe Tạo "cảm và luận".Nhắc đến Tường lại nhớ chuyện Tạo làm báo. Tạo là người có chính kiến mạnh, có tài phát hiện và rút tỉa vấn đề đưa lên báo những điều bạn đọc rất quan tâm. Đến nay Tạo đã từng trực tiếp làm bốn tờ báo là tạp chí Cửa Việt, Tạp chí Âm nhạc, báo Thơ (chuyên san của báo Văn Nghệ) và tạp chí Sao Việt. Tạo làm Cửa Việt cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Quang Lập nổi đình nổi đám, nức lòng văn nghệ cả nước, nhưng được 17 số thì bị đóng cửa. Làm Tạp chí Âm nhạc thì đẩy 3 tháng/kỳ lên 2 tháng/kỳ, rồi lên tháng/kỳ, chất lượng và hình thức đều được cải tiến mạnh mẽ, nhiều người thích, nhưng đến khi Tạo nghỉ hưu thì nó lại trở về mốc cũ. Tạo làm báo Thơ từ A đến Z như tổ chức bài vở, biên tập, làm mi báo, trình duyệt bài, rồi ký bản đưa in... Báo Thơ ra được 18 số thì Tạo bỏ vì không chịu làm khác ý mình. Tạo nhận làm Tổng giám đốc VVT cũng là để làm báo, đưa ra tạp chí Sao Việt được 4 số đầy hy vọng, nhưng, vừa được chú ý đã bị "xem lại giấy phép" và không bao giờ thấy tạp chí Sao Việt nữa. Phải nói thật tình rằng đó là những tờ báo hay, gợi lên được nhiều vấn đề về học thuật và dân chủ, được độc giả trí thức và bạn đọc cả nước tìm đọc, vì số nào cũng có những "vấn đề" đáng quan tâm. Ví dụ trên báo Thơ có bài viết rất xác đáng về vấn đề "thơ tình dục", hay những bài phỏng vấn đối thoại nảy lửa nghề nghiệp với các nhà thơ nổi tiếng... Trong tủ sách nhà tôi, 17 số Cửa Việt thời Tường - Tạo - Lập, 18 số báo Thơ là các loại báo duy nhất được đóng thành tập để lưu trữ làm tài liệu tham khảo lâu dài. Tạo vẫn khen "bọn lãnh đạo giỏi" ấy là thời Nguyễn Khoa Điềm (dưới bí thư, trên phó bí thư) mời Tạo làm phó Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nhưng ông bí thư phán xanh rờn: "Huế hết người tài sao phải mời Nghệ An?" Thế là thôi...

Nhưng hình như Nguyễn Trọng Tạo không làm báo không sống được. Anh viết bài đã đành, nhưng anh phải "làm báo". Rời các cơ quan báo chí nhà nước, Tạo về mở ba bốn cái blog, và tuyên bố "tôi muốn biến blog thành báo điện tử của riêng tôi". Tạo là người hăng hái cổ võ nhiều người chơi Blog, góp phần hình thành nhiều Câu lạc bộ Blog ở các địa phương và được cử làm chủ tịch Hội Blogger Hà Nội của Vnweblogs. Anh dựng mấy chục blog cho bạn bè: Ngô Minh, Phạm Dạ Thuỷ, Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Mai Văn Hoan, Hoàng Cát, Nguyễn Quang Lập, v.v... Ai không tự post bài, ảnh lên blog được thì cứ mail bài, ảnh cho Tạo. Anh giúp tất cả mọi người. Cái tình ấy không ai quên! Riêng một mình Tạo có ba cái blog: Nguyễn Trọng Tạo, Hội ngộ văn chương, Sao Việt, cái nào cũng thuộc loại "blog sôi nổi nhất". Blog Hội Ngộ Văn chương hay Nguyễn Trọng Tạo như là hai tờ báo văn chương mạng rất hấp dẫn độc giả. Rồi anh kết hợp với bạn văn hải ngọai lập website Hội Luận Văn Học Việt Nam nhằm hợp lưu các dòng văn học Việt. Nghĩa là Tạo vẫn không chịu bỏ báo. Anh dùng báo để nói những nỗi niềm tâm huyết của mình về văn chương và cuộc đời. Âu đó cũng là cái duyên cái nghiệp của anh.

Cho đến bây giờ, đã gần ba mươi năm bài thơ Tản mạn thời tôi sống của Tạo ra đời, nhưng "Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi. Câu trả lời thật không dễ dàng chi" như vẫn vận vào xã hội, vận vào người nghệ sĩ tài hoa này...

7-2008

Ngô Minh

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2008

Vắng em rồi anh mới hiểu mùa thu


Vắng em rồi anh mới hiểu mùa thu
Mùa hương tóc chẳng bay trong nắng sữa
Mùa hoa cúc chẳng xanh như thế nữa
Lá úa vàng hiu hắt gió heo may

Vắng em rồi anh mới hiểu mùa thu
Trời xanh ngắt nhuộm màu vắng vẻ
Khúc sông buồn giọt mưa ru lặng lẽ
Để đò chiều
ai đã lỡ
quên qua…

Vắng em rồi anh mới hiểu tình thu
Chẳng trói buộc bằng những lời giả dối
Chẳng gặp nhau mà đôi tim thức vội
Vườn hoang kia còn giữ dấu hôn sâu

Anh mải tìm trong mỏi mòn tượng đá
Chờ đợi em quên lãng cả mùa thu
Mùa thu ấy cứ thản nhiên thay lá
Chỉ mình anh
đuổi bắt với Cô đơn…

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2008

Nhạc sỹ Phạm Duy


Nhạc sỹ Phạm Duy, một cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam, với những tác phẩm để đời như: "Tình ca", "Bên cầu biên giới", "Bà mẹ Gio Linh", "Con đường cái quan",.... Tên thật là Phạm Duy Cẩn, xuất thân trong một gia đình văn nghiệp, cha ông là nhà văn Phạm Duy Tốn.
Phạm Duy viết nhiều thể loại nhạc, và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm lớn. Giai điệu âm nhạc trong sáng, phong phú, ca từ giàu chất thơ, rất biểu cảm và dễ đi vào lòng người. Bài đầu tiên tôi được nghe nhạc Phạm Duy hồi nhỏ là bài "Cây đàn bỏ quên". Nghe cũng chưa hiểu gì nhưng thích giai điệu nhẹ nhàng, du dương của bài ca. Sau này nghe bài "Tình ca" do ông viết vào khoảng năm 1953 thì tôi bị chinh phục bởi nhạc của ông. "Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời". Tiếng nước tôi ở đây có phải là văn hóa âm nhạc Việt Nam, một nền âm nhạc đậm chất phương Đông?
Trân trọng giới thiệu với các bạn bài viết về nhạc sỹ Phạm Duy của một người bạn của ông, nhà thơ Hoàng Cầm.
---------------------------------------------------------------

Phạm Duy và tôi


Người trẻ tuổi lãng tử ấy đi phơi phới trong màu xanh núi rừng của Việt Bắc. Anh chàng vứt bỏ cái vét tông rẻ tiền ở Hà Nội phù hoa đổi lấy bộ quần áo chàm. Với cái ca lô đội lệch, vàng xỉn, chả biết xin được của ai, dáng vẻ lẳng lơ và cái ba lô con cóc, đôi giày ba-ta đã hơi hơi há mõm, trông đúng cậu công tử Hà Nội nghèo, vì thích ca hát, mê đời tự do, bỏ nhà đi hát rong. Anh chàng hát rong dễ dàng hòa nhập với những ngày tháng đầu tiên - còn rất lãng mạn - của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Một ngày giữa năm 1947 - Tôi và vợ tôi, Tuyết Khanh, đang còn ngơ ngẩn tiếc những đêm diễn kịch thơ Kiều Loan ở Nhà hát thành phố bị đứt đoạn vì những trò khiêu khích của bọn mũ nồi xanh, lính của tướng Leclerc, hai vợ chồng đã xông lên một vùng rừng núi đang rất xa lạ với mình, nhập luôn vào vệ quốc đoàn chiến khu 12, rồi mày mò, tìm bạn, thành lập ngay một đội văn công đầu tiên của Quân đội, gồm 12 anh chị em, 3 nữ 8 nam với một cậu y tá mang túi thuốc nghèo nàn, cứ khăng khăng xin với ông Lê Quảng Ba, chỉ huy trưởng quân khu, được đi theo đội văn nghệ để trông nom sức khỏe cho mọi người nay đây mai đó, đến với từng trung đội, đại đội vệ quốc quân, dân quân, du kích khắp bốn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Ninh, Lạng Sơn để biểu diễn đủ loại kịch ngắn, kịch nói, kịch cương, ngâm thơ, hát tốp ca, đơn ca, múa vài ba điệu dân dã học được của đồng bào miền xuôi, miền ngược. Tóm lại là một tốp nhỏ anh chị em hăng hái và sôi nổi phục vụ một cuộc “trứng chọi với đá” thật kỳ thú trong lịch sử một dân tộc không bao giờ chịu khuất phục bất cứ một loại giặc xâm lược nào, giặc to đến đâu, sức mình bé đến mấy cũng đánh, mà đã đánh là phải thắng. Hồi đầu kháng chiến ấy, những “tiết mục” rất xoàng xĩnh, thậm chí có khi ngô nghê nữa, mà sao các anh nông dân mặc áo lính còn chưa đọc thông viết thạo lại say sưa thưởng thức đến thế! Nửa đêm nay tiểu đội A đánh phục kích ư? Trung đội C đi quấy rối địch ư? Chập tối họ vẫn được nghe giọng ngâm thơ sang sảng...

Đêm liên hoan, bạn ơi, đêm liên hoan
Đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết vệ quốc đoàn.
(Đêm liên hoan, thơ H.C.)

Nhiều khi họ lại “đồng ca” luôn theo đội văn nghệ:

Đường ta ta cứ đi
Nhà ta ta cứ xây
Ruộng ta ta cứ cày
Đợi ngày...

Say sưa, họ còn vỗ tay nhịp theo điệu hát:

Ngày mai ta tiến lên
Diệt tan quân Pháp kia
Cười vui ta hát câu tự do...
(Nhạc tuổi xanh - P.D.)

Vào một buổi chiều cuối thu 1947, trên đường đê sông Máng đi từ đập Takun (tiếng Pháp đặt thay tiếng Việt: tên gọi đập Thác Huống) có 3 người, 1 quàng guitare, 1 đeo accordéon, 1 cầm clarinette, ngơ ngác hỏi thăm chỗ đóng quân của đội văn nghệ tuyên truyền khu 12. Đó là các anh Phạm Duy, Ngọc Bích và Ngọc Hiền, đang tìm về với đội văn nghệ của Hoàng Cầm sau khi đoàn kịch Chiến thắng của các anh giải thể. Tối hôm đó, trong căn nhà ấm cúng ven rừng Yên Thế, trong ánh sáng ngọn đèn măng sông, ông Lê Quảng Ba giới thiệu ba chàng văn nghệ sĩ này với tôi. Ồ, có gì lạ nhau đâu, Phạm Duy đây mà, với giọng nói cố làm ra vẻ trịnh trọng: “Tôi ở trên ban văn nghệ trung ương, nghe tin anh Hoàng Cầm mới lập một đội văn nghệ lưu động, tôi và hai bạn tôi đây nhất quyết về với các bạn khu 12, vì toàn là trẻ trung cả”.

Rồi qua cặp kính trắng rất tài tử, Phạm Duy chớp chớp đôi mắt lẳng lơ nhìn các nữ diễn viên trẻ đẹp của tôi: Tuyết Khanh, Thúy Nga, Kim Oanh, đến nỗi cả ba cùng ngượng nghịu, đưa mắt nhìn nhau, tủm tỉm. Tôi với Phạm Duy quen biết nhau từ sau Cách mạng Tháng Tám. Chỉ biết qua loa về gia cảnh anh, hình như có chuyện éo le gì đó. Mới 15 tuổi anh đã bỏ nhà đi theo những bậc đàn anh như Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương, Đàm Quang Thiện, học được cách ghi xướng âm và những điều cơ bản về âm nhạc, chẳng bao lâu tài năng bộc lộ, anh chịu khó chắt lọc, sử dụng tinh hoa dân ca miền Bắc. Vốn thông minh, học một biết hai, anh đã có thể đi đàn ở các tiệm nhảy để mưu sinh. Vốn là một cậu con trai có dòng dõi văn hóa nghệ thuật lại sớm đa tình, miệng cười rất có duyên, tán chuyện với những cô gái cũng rất hóm hỉnh, quyến rũ, nên anh chàng bảnh trai này sớm có những chuyện dập dìu yến oanh. Sẵn có một trái tim đa cảm, nhiều cánh vỗ vào bầu trời lãng mạn, vào không khí trữ tình, vào cả gió bão thất thường của những năm thế chiến mà xứ xở Việt Nam không thể không bị cuốn vào cơn lửa khói hỗn độn, anh chưa bao giờ ở lâu một chỗ, tuổi trẻ của anh bềnh bồng gió Bắc mưa Nam, và ánh sáng nhấp nháy của những đô thị náo động cũng cuốn anh vào những xập xình của cuộc sống phồn thực, mà khoái cảm là một phương thuốc hiệu nghiệm để trốn chạy thực tế bão táp phũ phàng. Nghèo, nhưng mang cái máu như của thi sĩ Tản Đà đã tự thú nhận: “Giang hồ mê chơi quên quê hương”, anh chỉ khác Tản Đà ở chỗ tâm hồn không neo vào một bến quê nào nhất định, hồn anh từ 16 tuổi đã phiêu bạt và phiêu diêu với nhiều đam mê. Lắm khi chao đảo, anh không lúc nào muốn buộc mình vào một sợi dây vướng víu, kể cả sợi dây tơ tình đẹp nhất, anh cũng chỉ choàng lên cổ tự ngắm vuốt, tưởng như thích thú lắm, nhưng rồi chỉ mấy ngày bướm đậu rồi bướm lại bay thôi, anh có thể lại bứt đi mà tiếp bước giang hồ nhẹ tênh.


Tôi rất thích khi có bộ ba “xe pháo mã” ấy, một bộ ba mà Phạm Duy là cái xe không lúc nào muốn dừng bánh. Từ cuối năm 1947 ấy các anh đã thành côpanh (bạn chia nhau từng mẩu bánh) của tôi. Ngọc Bích thì vui tính thường viết những bài hát vui, giản dị cho bộ đội dễ thuộc, Ngọc Hiền ít nói hơn nhưng với chiếc kèn clarinette lắm lúc cứ nỉ non thiết tha như mời gọi, anh lại hóm hỉnh, lúc nói chuyện đã pha trò là có duyên hấp dẫn ngay.

Riêng Phạm Duy, trong khoảng 13 tháng sát cánh bên nhau tôi cần phải nói rằng có anh trong đơn vị, người tôi như mọc thêm cánh. Đóng quân ở đâu độ bốn năm ngày là anh đã sốt ruột rồi, lúc nào anh cũng ham cảnh vui, người lạ, những cuộc “kỳ ngộ” trên đường rừng, lối mòn Thái Nguyên, Lạng Sơn. Bắc Giang, Đồng Mỏ, rồi Phố Bình Gia, Văn Mịch, rồi từ sông Thương đến sông Kỳ Cung, từ đèo Nong “nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống” (Quang Dũng) nối đất cụ Đề Thám với xứ sở Cai Kinh, Đèo Đồng Mỏ thấp hơn, nhưng lại tình tứ hơn vì trên đỉnh đèo có mấy quán cà phê, trứng, sữa, bán cả phở bò, cháo gà, mà chủ nhân phần lớn là mấy chị em người thành thị tản cư, áo phin nhuộm nâu, quần lĩnh tía, vẫn còn thướt tha cái “dáng kiều thơm”, chưa quen nỗi truân chuyên trong khói lửa loạn ly.

Tôi thường chiều ý Phạm Duy, vì biết hễ cứ xê dịch luôn có cảnh đẹp lạ mắt, có những cô gái xinh tươi thì thế nào anh cũng bật ra được những giai điệu say mê, trữ tình, mặc dầu đề tài nhiều bài ca nổi tiếng của anh không phải là chuyện tình nam nữ hoặc chuyện xa cách nhớ nhung, thở ngắn than dài như một số ca khúc buồn trước cách mạng. Tôi cứ chuyển quân liên miên, nay đơn vị A, mai sang đơn vị B, nay vừa biểu diễn ở Nhã Nam, mai đã sang Bố Hạ, ngày kia đã tưng bừng tiếng ghi ta thánh thót trong đêm lạnh chân núi Mẫu Sơn, rồi chỉ vài hôm sau, đội của tôi đã hát vang trong bóng núi Chi Lăng, nơi gần 600 năm trước, tên giặc Liễu Thăng chết gục dưới mũi kiếm của đoàn quân do Bình Định Vương Lê Lợi chỉ huy và thiên tài Nguyễn Trãi bày mưu tính kế. Có thể nói chúng tôi đi không biết mỏi. Ngày đi, tối biểu diễn, có khi trên sàn nhà đồng bào Tày, có khi đốt lửa trong hang đá lạnh thấu xương hát cho tiểu đoàn của anh Thế Dũng vừa thắng trận Bông Lau trở về. Thường những đêm như thế đội văn nghệ chúng tôi đặc biệt là Phạm Duy tha hồ mà thưởng thức loại cà phê thượng thặng và hút thuốc lá “Craven A” cao cấp trong hàng đống chiến lợi phẩm mới thu về.

Sáng ra lại xuất quân. Phạm Duy mê man đi, vừa đi vừa lẩm nhẩm thầm thì sáng tác thì chợt đến khi bắt được một giai điệu đẹp, tha thiết, là anh ngồi ngay xuống tảng đá bên đường, lấy bút giấy ra ghi. Nếu chỉ qua được một đoạn đường mà xong được một bài, anh lập tức kêu tôi và các bạn dừng lại, túm tụm trên vệ cỏ, nghe anh hát.

Đường Lạng Sơn âm u (ù u)
Giờ bình minh êm ru (ù u)
Vẳng nghe tiếng súng trong sương mù
Đường Thất Khê bao la (à a)
Rừng núi ta xông pha (à a) .......
Thường những lúc như thế, nhân thể tôi cho toàn đội nghỉ, tìm một xóm nhà dân nào đó gần nhất, xin trú quân, thổi cơm ăn, đồng thời bảo mấy tốp ca học thuộc ngay bài hát anh vừa hoàn thành. Cứ như vậy, toàn đội, đặc biệt là Phạm Duy đã truyền cho tôi sức mạnh dẻo dai để vừa đi vừa sáng tác. Ghi ngay thành thơ hoặc chủ đề kịch ngắn những cảm xúc, những ý tứ bất chợt lóe lên trong tôi. Sáng tác đến đâu biểu diễn luôn đến đấy, anh chị em lại động viên tôi say sưa với nhiệm vụ của người đội trưởng tháo vát, biết tổ chức đời sống, chỉ đạo phương hướng làm việc đạt hiệu quả cao nhất trong các đơn vị bộ đội đóng rải rác khắp bốn tỉnh và trong các làng bản mà nhân dân tuy chưa hiểu kháng chiến được bao nhiêu, nhưng do những lời ca tiếng hát, nên đã yêu mến và hết lòng ủng hộ bộ đội, nuôi chiến sĩ và làm nghĩa vụ với chiến trường. Chỉ trong vòng chưa đầy 12 tháng, Phạm Duy đã liên tục sáng tác hàng chục ca khúc, có nhiều bài chỉ hát đôi ba lần, bộ đội đã thuộc lòng, chúng tôi còn phân công nhau dạy hát cho các đơn vị từ trung đội đến trung đoàn và cả nữ dân quân, dân công tải đạn, cáng thương bệnh binh. Gì chứ về cái công việc này thì Phạm Duy hăng hái, sôi nổi nhiệt tình số một, vì bất cứ ở đâu có nhiều chị em, thể nào Duy cũng thì thầm cho đội trưởng biết: cô kia có đôi mắt đẹp quá, chị này thật lẳng lơ, cô nọ sao lại có nụ cười quyến rũ thế kia, tôi cũng thừa biết cái thú say mê ấy của Duy đã đẩy ngòi bút xúc cảm của anh ghi nhanh nhiều giai điệu nồng nàn uyển chuyển, với lời ca thắm thiết, với bao nét nhạc khí phách hào hùng hay hào hoa phong nhã nữa kia, nên bao giờ tôi cũng đồng tình với Duy về một loại công việc mà Phạm Duy thường nói đùa là “việc sinh sự, sự sinh” ấy. Tôi nhớ mãi một chuyện ở phiên chợ Bó Tuổng, dưới chân đèo Đồng Mỏ, có ba chị em người Nùng thấy Phạm Duy ngồi ở một cái quán nước tay đàn miệng hát. Thế là các cô cứ xán đến, rất bạo dạn, kéo vai áo anh nhạc sĩ đẹp trai này và ân cần, nài nỉ mời anh và cả “đồng chí chỉ huy nữa vớ!” về nhà chúng em chơi đi, gần đây thôi vớ, đàn hát cả đêm nay đi, hay lắm vớ. Pì noọng chúng em thích bộ đội đàn hát lắm đấy mà!

Phạm Duy nháy mắt với tôi như muốn bảo: đội trưởng đồng ý chứ? Chuyến công tác ấy, vợ tôi vì có thai đã được 6 tháng, cấp trên bắt tôi phải để vợ nghỉ an dưỡng trong một quân y viện ở huyện Hữu Lũng, do vậy tôi cũng được rảnh rang hơn, nhưng trước sự mời mọc quá tha thiết, ân cần của ba cô gái người Nùng tôi phân vân do dự, bối rối vô cùng. Ngày hôm ấy chúng tôi còn phải đi gần 20 cây số nữa đến điểm hẹn biểu diễn phục vụ một trung đoàn sẽ có mặt cả ông Lê Quảng Ba, ông Phan Phúc Tường, Chính ủy Quân khu và nhiều cán bộ đang chuẩn bị những trận đánh lớn dọc quốc lộ số 4, một con đường chiến lược huyết mạch của địch nối liền từ Quảng Ninh lên đến Cao Bằng. Ông Quảng Ba đã có liên lạc hẹn trước với tôi rồi. Không thể về nhà ba cô gái kia được. Bây giờ đã gần 9 giờ sáng, chơi chợ một lát rồi phải đi ngay, chiều đến nơi, ăn cơm xong, nghỉ một lát là biểu diễn luôn. Vậy rẽ ngang mà du hí thé nào được. Hồi đó tuy quân phong quân kỷ còn sơ sài, kỷ luật cũng chưa chặt chẽ lắm, nhưng tôi rất lo trách nhiệm của mình, không thể làm lỡ việc của anh Ba, để bộ đội phải chờ đợi văn công. Tôi khăng khăng từ chối. Phạm Duy cứ thuyết phục năm lần bảy lượt, thì thầm những lời đường mật “Bộ đội vẫn ở đây, không ở chơi với gia đình đồng bào Tày Nùng lấy một ngày, với ba cô bé xinh đẹp của xứ Lạng thế này, tao thấy tiếc, tiếc lắm. Đồng ý đi mày, mai anh Ba có phàn nàn gì, mày cứ bảo tao bị sốt rét dọc đường, là được”. Tôi càng bối rối vì trong tôi: trách nhiệm và thích thú cá nhân đã giằng co nhau mãnh liệt, lại phải cái tính cả nể, nên có lẽ mặt mũi tôi lúc đó chắc là trông buồn cười lắm. Rồi cả ba cô tiếp đến chín, mười cô và dễ thường đến một nửa cái chợ Bó Tuổng ấy mỗi lúc một xúm đông quanh chúng tôi và Phạm Duy. Họ cũng đoán tôi là “cấp chỉ huy” gì quan trọng lắm đây, nên các cô gái cứ vây lấy đồng chí chỉ huy à! Về nhà chúng em vớ, vui lắm vớ! Trừ có vợ chồng nhạc sĩ Văn Chung là không có ý kiến gì, còn hầu hết anh chị em trong đội của tôi đều tán đồng với anh chàng “đầu têu” họ Phạm: - Nên đi cho biết anh Cầm ơi! Bộ đội thì quen quá rồi còn đồng bào miền núi, mình đã biết gì lắm đâu! Đồng ý đi, anh đội trưởng! Cuối cùng tôi cũng đành nhượng bộ và quả thật, từ lúc đến nhà ba cô, cuộc vui thật là “đầy tháng” (tuy chỉ có nửa ngày và một đêm) và “trận cười suốt đêm” (Nguyễn Du).

Sáng hôm sau, lúc chia tay với gia đình ấy trông Duy ỉu xìu: dùng dằng mãi không quàng nổi cái dây đàn lên cổ, còn riêng tôi khi xuống cái cầu thang nhà sàn, sóng đôi với cô chị lớn tuổi nhất ra đến đầu ngõ, tôi cảm thấy hồn mình đã bị ai buộc chặt vào cái cột nhà sàn mất rồi, chỉ còn cái xác vật vờ, chệnh choạng mà vào phút cuối cùng chia tay với cô chị (tôi còn nhớ tên là Ché Mai níu chặt cánh tay tôi, đưa vạt áo chàm lên lau nước mắt, tôi thì nghèn nghẹn, không nói được gì, nước mắt cứ ứa ra, nhòe hết núi đá, rừng cây và con đường đá trắng quanh co trước mặt.

Khổ! Cái anh chàng nhạc sĩ họ Phạm này, cũng y hệt mình thôi, cứ đến “chuyện ấy” tưởng được vui hóa ra lại chuốc lấy cái sầu li biệt. Với Duy nó cũng nhẹ thoảng qua thôi, chứ với tôi, cuộc chia tay ấy nặng như núi đá cứ xanh thẫm cái màu chàm quái ác và đằng đẵng mãi đến khi kết thúc công tác phía Lạng Sơn, về xuôi rồi thậm chí đến hôm nay nữa, khi ngồi viết ra mấy trang hồi ức này tôi vẫn không nguôi nỗi nhớ.

Quả vậy, tôi rời cái bàn của Ché Mai, nặng lòng bao nhiêu thì khi ra đến mặt đường tỉnh từ Đồng Mỏ lên Phố Bình Gia, Phạm Duy lại phơi phới bấy nhiêu. Anh ta vẫn nhẹ tễnh cái hồn say sông núi, cỏ cây xứ Lạng. Rồi mấy anh trong đoàn lại vừa đi vừa hát, nhiều khi làm thơ kiểu “nối điêu” nhưng bắt buộc một câu bảy chữ phải cùng một âm cốt, ví dụ: Đường đá đưa đoàn đi đến đâu để quên cái đoạn đường đá lởm chởm đang nhức gan bàn chân. Văn Chung xướng ra câu đầu tiên: Đường đá đưa đoàn đoàn đi đến đâu. Một lát Phạm Duy nối: “Xa xưa xam xám xuống sương sầu”. Tôi quên mấy câu do Trúc Lâm, Ngọc Hiền, Ngọc Bích làm tiếp theo, riêng tôi là người làm thơ thì lại chẳng bật ra được chữ nào vì đang lo việc về chậm nơi tập kết, và cứ nao nao nhớ Ché Mai. Mới biết về chuyện ân tình nam nữ thì Phạm Duy khá nhẹ nhõm, anh ta như gió thoảng qua trên hoa lá, lẳng lơ tình tứ đấy mà quên ngay đấy, rồi ngọn gió ấy lại thổi tạt con bướm non sang chòm hoa lá khác. Có lẽ do cái bản chất tênh tênh ấy, mà càng lưu diễn qua nhiều nơi mới lạ, thì anh lại càng sáng tác được nhiều chăng? Mà không biết có phải cũng vì thế mà phần lớn ca khúc anh viết ở Việt Bắc 1947-1948 đều như thiếu một khoảng gì (không cần sáng lắm) để chạm chìm vào lòng người những nét suy tư sâu sắc? Bài nào anh viết ra đều nhẹ nhõm, dễ thuộc, cũng có thể nhớ lâu, nhưng nhớ lâu chưa chắc cùng một vần với nhớ sâu. Ở những tác phẩm của anh hồi đầu kháng chiến, tôi ít thấy cái da diết thắm thiết đến khắc khoải như một vài ca khúc của Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao... Nhưng quả thật Phạm Duy là người viết ca khúc được hầu hết các chiến sĩ bộ đội, cán bộ và thanh niên nam nữ khắp Việt Bắc lúc bấy giờ yêu mến nhất, nhắc nhở nhiều nhất, vượt xa các nhạc sĩ nổi tiếng khác cùng thời.

Đến khi cuộc sống kháng chiến đi vào chiều sâu thì anh đã không còn ở bên tôi nữa. Như con chim ưa tìm xứ lạ, anh đã bay đi và để lại trong tôi một cái gì giống như tiếng sáo vi vu, giàn giụa tình nghĩa xóm quê xa với những nẻo đường cũng đã quá xa, tưởng chừng khó còn khi gặp lại.


Mười ba tháng tròn bên nhau, ăn cùng một rổ khoai sắn, chia nhau từng cái bắp ngô nướng bếp nhà sàn, từng đọt măng mai măng nứa, đắp chung nhau cái chăn trấn thủ mỏng dính, hụt hẫng như ca dao của Lê Kim “Đắp dọc thì hở hai bên, đắp ngang thì lạnh như tiền cái chân...” rồi cùng chia nhau cả những dây tơ tình vắt thoáng qua lướt nhẹ hai vai, rồi đến cả mấy bài hát sáng tác ngay bên cạnh tôi, anh cũng cho phép anh đội trưởng điếc đặc âm nhạc này được hoan hỉ nhập vào một tốp ca do anh bố trí người đàn người hát, ngược lại mấy bài thơ “dài dòng văn tự” của tôi (Đêm liên hoan, Bên kia sông Đuống, Tâm sự Đêm giao thừa, Tiếng hát sông Lô) anh cũng xin cho tôi được “đồng ngâm”. Tôi đã chia đoạn mỗi bài thơ ấy như để đối xướng và giao cho anh những phần có thể ngâm nhiều hơn đọc. Anh thích ngâm thơ và cũng đã thành một “cây ngâm thơ” không phải hạng xoàng. Vậy thì tôi đã giúp gì được anh? Có lần trong chuyến đi công tác dọc tả ngạn sông Cầu, đi đường, một bên là Phạm Duy, một bên là vợ tôi, không biết từ đâu và do cảm hứng gì, thật bất ngờ tôi đột nhiên cất cao giọng “hát” trọn vẹn một bài thơ của Lưu Trọng Lư mà tôi rất thích.


...Ai có nghe tiếng hát chị đò đưa
mà không nhớ thương người quả phụ...
Nằm ấp bóng trăng thưa...

Tôi hát thật (hoàn toàn không phải “ngâm” như vốn là “nghề” tay trái của tôi, mà cũng là “cao tay nghề” “nhà nghề” lắm lắm, nghề ngâm thơ).
Dẫu chỉ là ngón sở đoản của tôi, Phạm Duy cũng rất thích rồi... ngược đời thật... Phạm Duy lại “học hát” ở một anh bạn “mít xoài” âm nhạc. Đầu tiên, chỉ là những trò chơi cho quên vất vả dọc đường, nhưng dần dà lại ngấm sâu vào cả tôi và anh. Tôi biết Phạm Duy say mê dân ca, anh luôn luôn lắng nghe và tìm hiểu để thụ nhập những lời ca điệu hát của biết bao trai gái quê Bắc Ninh, Bắc Giang, cả những anh chị người Tày, Nùng mà trong 13 tháng ấy anh luôn luôn được tiếp cận. Bởi thế nên hơi thở của dân ca xứ Bắc đã trở thành sinh khí trong các ca khúc Phạm Duy hồi đầu kháng chiến chống Pháp. Chỉ cần một phẩm chất ấy trong các sáng tác của anh thời đó là đủ cho tên tuổi anh thành thân thiết với bộ đội và nhân dân từ trung du đến biên cương phía Bắc. Từ khi chia tay với anh lần cuối vào khoảng sau tết âm lịch năm 1951, tuy xa cách, tôi vẫn nhận được nhiều tin về sáng tác của anh. Vào công tác ở khu Bốn dưới trướng thiếu tướng “Mạnh Thường Quân” Nguyễn Sơn, một ông “nhà binh” lại đam mê văn nghệ, Phạm Duy đã viết những ca khúc đặc sắc: Về miền Trung, Bà mẹ Gio Linh, Bên ni bên tê... chứa chan sắc thái miền Trung, Miền thùy dương bóng dừa ngàn thông, Thuyền ngược xuôi suốt một dòng sông...dài... Chúng tôi nghe thấy rõ tiếng sóng bờ biển Quảng Bình, tiếng xao xuyến những đợt mưa ngàn, mưa núi Quảng Trị, thấy cả một bầu trời xanh, rất xanh màu “hai châu Ô, Lý vuông nghìn dặm" (Tản Đà) từ thuở Chiêm Thành, đã tưởng mất hút qua thời gian lặng lẽ và lạnh lùng. Phong vị dân ca quan họ đã theo anh vào nhiều ca khúc, đặc biệt là bài Khúc hát hành quân xa thì giai điệu, âm sắc và tiết tấu nào có khác gì với bài thơ Lưu Trọng Lư mà tôi đã bất chợt hát trên đường hành quân bên bờ sông Cầu năm ấy?
Hà Nội, tháng 12.1993
Hoàng Cầm